Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý phát triển văn hóa tổ chức. Thực trạng công tác quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường Trung học cơ sở Hồng Đức. Biện pháp quản lí phát triển văn hóa tổ chức ở trường Trung học cơ sở Hồng Đức.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỔ CHỨC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” (organisational culture, culture organisation) xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960. Thuật ngữ tương đương “văn hóa công ty” (corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến sau khi tác phẩm văn hóa công ty của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 [36]. Văn hóa nhà trường (Scholary culture, culture scolaire, viết tắt VHNT) là văn hóa của một tổ chức.
Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính - sư phạm. Đó là một thế giới thu nhỏ với cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng cho những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập. Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại dù ít hay nhiều một nền VH nhất định[25]. Tuy nhiên cho đến nay, lại có rất ít tác giả quan tâm đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức.
Một số sách, bài viết gần đây chủ yếu chỉ quan tâm tới công tác VH học đường ở trường phổ thông, VH học, môi trường VH cơ sở…Có thể kể đến: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Viện văn hóa, Nhà xuất bản thông tin, Hà Nội của tác giả Đỗ Huy (2001)[22]; Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội của Văn Đức 5 Thanh (2001) [42]; Văn hóa giao tiếp ứng xử, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội của Đinh Viễn Trí - Đông Phương Tri (Ngọc Anh dịch) (2003)[37]; Văn hóa học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội của V.M Rôđin (Người dịch: Nguyễn Hồng Minh)(2000) [41]; Môi trường giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục. - Trường ĐHSPHN (9-2007) ,Viện Nghiên cứu sư phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường của tác giả Phạm Hồng Quang (2006). Trong công trình của tác giả Phạm Hồng Quang, tác giả đã đánh giá những tác động của môi trường văn hóa giáo dục đến quá trình đào tạo đồng thời tác giả đã làm sáng tỏ các quy luật tác động của môi trường văn hóa giáo dục đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học. Các công trình nghiên cứu của ông chính là những vấn đề quan trọng có giá trị trong các công trình nghiên cứu tiếp theo về văn hóa sau này[33].
Cho đến nay, có một số sách, tạp chí với những bài viết về Nhà trường tập trung vào việc chỉ ra các hành vi vi phạm văn hóa trong trường học như: những mâu thuẫn giữa học sinh với học sinh; giáo viên với học sinh; giáo viên với giáo viên; môi trường trong trường học; việc quản lý văn hóa nhà trường…các bài viết cũng đã đưa ra được các biện pháp nhằm hạn chế được các hành vi tiêu cực làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục, và các biện pháp xây dựng văn hóa trường học…Tuy nhiên có ít tác giả quan tâm, đi sâu vào nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống về việc quản lý phát triển văn hóa tổ chức trong Nhà trường, đặc biệt là ở các trường Phổ thông. Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài này với hy vọng để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý phát triển văn hóa tổ chức ở trường THCS đồng thời đề xuất những biện pháp của 6 Hiệu trưởng trong công tác quản lý có hiệu quả môi trường công tác tích cực cho CBGV & HS, trên cơ sở đó góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của các trường THCS nói chung và Trường THCS Hồng Đức nói riêng trong giai đoạn phát triển hiện nay 1. Văn hóa tổ chức ở trƣờng trung học cơ sở 1. Khái niệm văn hóa Có nhiều định nghĩa về văn hoá.
Năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), đã tìm thấy không dưới 164 đinh nghĩa về VH. Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính) mà cả ở cách sử dụng rộng rãi của từ này. Tại Hội nghị Quốc tế các nhà văn học họp tại Mehico do Unesco tổ chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau của VH, bản tuyên bố chung của hội nghị đã chấp nhận một quan niệm về VH như sau: Trong ý nghĩa rộng nhất VH là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một XH hay của một nhóm người trong XH. VH bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, quyền cơ bản của con người hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Như vậy, dưới góc độ xã hội học thì VH là một hiện tượng XH gắn với đời sống XH, còn nội dung của VH chính là sản phẩm của hoạt động thực tiễn có tính sáng tạo của con người, luôn được chắt lọc kế thừa, phát triển dưới tác động của con người, vì hạnh phúc của con người. Theo những ý nghĩa đó, văn hóa là một hiện tượng XH đặc thù mà nét trội cơ bản của hiện tượng này là ở chỗ chúng là một hệ thống những giá trị chung nhất cả về vật chất và tinh thần cho một cộng đồng, một dân tộc, một thời đại hay 7 một giai đoạn lịch sử nào đó, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường tự nhiên, trong các mối quan hệ XH [4]. Cấu trúc của hệ thống VH được thể hiện qua sơ đồ 1.2 HỆ THỐNG VĂN HOÁ Văn hoá nhận Nhận thức về vũ thức trụ Các Văn hoá tổ chức Tổ chức đời sống Các loại thành cộng đồng và tổ cộng đồng, tổ chức cá nhân chức đời sống cá hình văn tố nhân hoá cơ bản tạo hiện diện thành Văn hoá ứng xử Tận dụng môi trong mỗi hệ với môi trường tự trường tự nhiên, nhiên Ứng phó với môi thành tố thống trường tự nhiên của hệ văn thống văn hoá Tận dụng môi trư hoá Văn hoá ứng xử ờng XH, ứng phó với môi trường với môi trường xã hội XH Hình 2. Sơ đồ cấu trúc của hệ thống văn hoá VH là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa của tất cả các khía cạnh của đời sống trong XH.
Sự có mặt của những thành tố và mối quan hệ giữa chúng tạo nên bộ mặt chung nhất của hệ thống VH, còn những biểu hiện cụ thể của văn hóa nói chung và của mỗi thành tố nói riêng được phản ánh thông qua các loại hình văn hóa. Môi trường văn hóa Môi trường văn hóa, là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật 8 chất và tinh thần của mình, là tổng hòa các giá trị VH vật chất và VH tinh thần tác động đến con người và cộng đồng trong một không gian và thời gian xác định[10]. Môi trường VH bao gồm nhiều yếu tố hợp thành các hệ thống nhất định. Đó là hệ thống những giá trị VH (các giá trị), hệ thống những quan hệ VH (cái mang giá trị), hệ thống những hình thái hoạt động VH (cái thực hiện giá trị) và hệ thống những thiết chế VH (các định hướng giá trị).
Mỗi hệ thống đều ở trong quá trình phát triển không ngừng chứ không phải cứng đờ, bất biến. Vì vậy, xây dựng môi trường VH thực chất là xây dựng và phát huy tác dụng của từng hệ thống trong cấu trúc tổng thể của nó. Thành tố thứ nhất là: hệ thống những giá trị VH. Thành tố thứ hai là hệ thống những quan hệ VH.
Thành tố thứ ba là hệ thống những hình thái hoạt động VH và cảnh quan VH. Thành tố thứ tư là hệ thống những thiết chế VH. Với ý nghĩa là tổng hòa các thành tố trên đây, môi trường VH có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống cộng đồng và quá trình xây dựng con người. Bởi vì, VH “trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Khái niệm tổ chức Thuật ngữ tổ chức được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau: Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” 1. - Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định[1] 9 Theo Chester I.
Barnard, thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức 2. Như vậy theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổ chức. Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức).
Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức).