phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí phát triển CTĐT ngành Tài chính - Ngân hàng theo HCTC ở trƣờng cao đẳng kinh tế - tài chính. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí phát triển CTĐT ngành Tài chính - Ngân hàng theo HCTC ở Trƣờng CĐKTTCTN. Chƣơng 3: Biện pháp quản lí phát triển CTĐT ngành Tài chính - Ngân hàng theo HCTC ở Trƣờng CĐKTTCTN. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN3 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH 1.
Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Nội dung CT đại học ở phƣơng Tây phát triển rất nhiều qua các thời kì lịch sử từ các nƣớc có các nền giáo dục nguyên sinh ở châu Âu nhƣ: Pháp, Anh, Đức… cho đến một xứ thuộc địa đặc biệt giành độc lập và phát triển nhanh chóng nhƣ Hoa Kỳ. Tác giả Henry Rosasky, nguyên trƣởng khoa Nghệ thuật và khoa học của Đại học Harvard đã bắt đầu quá trình xây dựng CT nòng cốt từ thập kỷ 70 của thế kỉ 20. Vƣợt qua thời gian, tầm nhìn này đã tạo thành nền tảng của CTĐT nòng cốt tại Đại học Harvard với nhiều đóng góp của nhiều khoa và nhiều GV nhằm xây dựng những nhóm CT và những bộ môn tự chọn [dẫn theo [4]].
Trƣớc đây, hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc ảnh hƣởng sâu sắc truyền thống Khổng giáo (coi trọng về PPGD) và khuynh hƣớng Xô viết (coi trọng chuyên ngành khoa học trong xây dựng CTĐT). Cả hai khuynh hƣớng này đều ủng hộ CTĐT cố định theo kế hoạch. Dƣới ảnh hƣởng của khuynh hƣớng Xô Viết, từ năm 1950 đến năm 1978, mọi SV đƣợc tuyển vào trƣờng đại học đều là theo một kế hoạch kinh tế và đƣợc phân bổ cho một lĩnh vực chuyên ngành, ĐT đại học là một tiến trình bốn năm học với những môn học bắt buộc. Ngày nay, hầu hết các trƣờng đại học ở Trung Quốc đều đang thực hiện hệ thống ĐT theo TC.
Có hai xu hƣớng chính về việc quản lí CTĐT đại học: Ở các nƣớc theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa kiểu cũ trƣớc đây), nhà nƣớc ban hành danh mục các ngành ĐT và các CT mẫu (thƣờng có cấu trúc cứng) của các ngành ĐT tƣơng ứng cho các trƣờng đại học thực hiện. Danh mục ngành ĐT và CT mẫu đƣợc các hội đồng tƣ vấn ngành hay nhóm ngành ĐT do nhà nƣớc thành lập; Ở các nƣớc theo mô hình kinh tế thị trƣờng, các trƣờng đại học có quyền tự chủ cao trong việc xây dựng CTĐT, tuy nhiên cũng có các hình thức nhất định để quản lí CTĐT. Thƣờng có các cách quản lí sau đây: Các trƣờng tự chủ xây dựng các CTĐT của mình theo các khuôn mẫu chung và các tiêu chí mà các “Hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN4 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com kiểm định công nhận” quy định (các trƣờng đại học Hoa Kỳ); Nhà nƣớc ban hành quy định về khung CT, các trƣờng đại học tự xây dựng CTĐT theo các khung CT đó (các trƣờng đại học Nhật Bản, Thái Lan,. Lí luận và thực tiễn ở nƣớc ngoài nghiên cứu về CT và phát triển CT rất phong phú.
Có thể kể đến Peter F.Oliva - Xây dựng chƣơng trình học - Development the Curriculum, ngƣời dịch Nguyễn Kim Dung. Dự án phát triển giáo dục THPT - Khóa tập huấn về phát triển chƣơng trình (tài liệu dịch tham khảo) của Ian Macpherson và Christine Ludwig, Australia, 2005; công trình của tác giả I.K Davies Objectives in curriculum design; của j.D McNeil: Curiculum: A comprehensive introduction. Tài liệu của The VAT - Các tập bài giảng mẫu về thiết kế chƣơng trình đào tạo, Hà Nội (1999- 2000) [12]. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về CTĐT, phát triển CTĐT và quản lí CTĐT nhƣ: công trình “Chƣơng trình đào tạo và phát triển chƣơng trình đào tạo” của tác giả Nguyễn Đức Chính; “Phát triển chƣơng trình giáo dục” của tác giả Nguyễn Văn Khôi” [7]; “Cấu trúc lại chƣơng trình đào tạo để chuyển từ đào tạo niên chế sang chƣơng trình đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trƣờng đại học hiện nay” của tác giả Ngô Doãn Đãi; “Phát triển chƣơng trình giáo dục/đào tạo đại học” của tác giả Lâm Quang Thiệp và Lê Viết Khuyến [17]; “Phát triển chƣơng trình đào tạo giáo viên những vấn đề lí luận và thực tiễn” của tác giả Phạm Hồng Quang [12],.
Ở cấp độ luận án tiến sĩ có công trình nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Hoan “Quản lí xây dựng và đánh giá chƣơng trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ”. Ở cấp độ công trình nghiên cứu trình độ thạc sĩ có đề tài “Giải pháp quản lí phát triển chƣơng trình đào tạo ở trƣờng Đại học Dân lập Phƣơng Đông” của tác giả Hoàng Thị Minh Huệ; “Quản lí và phát triển chƣơng trình đào tạo ngành Kế toán ở Trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên” của tác giả Phạm Ngọc Huyền [6]. Các công trình và bài viết đã đề cập đến các tiêu chí đánh giá, quy trình đánh giá CTĐT; đã phân tích đặc điểm của HCTC và các yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lƣợng CTĐT cho phù hợp với nhu cầu của ngƣời học phù hợp với thực tiễn xã hội nƣớc ta và hội nhập quốc tế. Đánh giá chung: Vấn đề phát triển CTĐT và quản lí phát triển CTĐT cao đẳng, đại học trên thế giới đã có những tác giả nghiên cứu từ nửa cuối của thế kỉ 20.
Tại Việt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Nam, từ năm 2000 đến nay có một số nghiên cứu ở dạng luận án tiến sĩ, đề tài luận văn thạc sĩ và bƣớc đầu đã có đóng góp nhất định trong xây dựng lí luận và ứng dụng thực tiễn về phát triển CTĐT và quản lí phát triển CTĐT cao đẳng, đại học. Những công trình nghiên cứu trên cung cấp phƣơng pháp luận và nội dung cơ sở để chúng tôi nghiên cứu quản lí phát triển CTĐT ngành Tài chính- Ngân hàng theo HCTC ở trƣờng cao đẳng hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí Khái niệm quản lí đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học.
Với tầm quan trọng nhƣ vậy nên đã hình thành cả một ngành khoa học - Khoa học quản lí. Các nhà nghiên cứu nhiều góc độ tiếp cận để có những quan niệm khác nhau về khái niệm này. Theo Marry Parker Follet: “Quản lí là nghệ thuật khiến công việc đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác” [dẫn theo [2,tr46]]. Jamer Stoner và Stephen Robbins cho rằng: “Quản lí là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra” [dẫn theo [8]].
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, khái niệm quản lí đƣợc hiểu là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan [20]. Trong giáo trình “Tâm lí học quản lí”, tác giả Vũ Dũng nêu: “Quản lí là sự tác động có định hƣớng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [2,tr47]. Chúng tôi sử dụng khái niệm: Quản lí là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến đối tƣợng quản lí nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để đạt tới mục tiêu đã định trong một môi trƣờng luôn thay đổi. Mỗi hệ thống quản lí theo cách tiếp cận chức năng bao gồm 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra.
Mỗi hệ thống quản lí theo cách tiếp cận quá trình bao gồm các nội dung lớn, nhƣ: quản lí mục tiêu, quản lí nội dung, quản lí phƣơng pháp, quản lí hình thức tổ chức, quản lí con ngƣời, cơ sở vật chất, kết quả. Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh từng nội dung cho phù hợp. Mỗi nội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com dung, tuỳ theo tầm quan trọng và cấu trúc của hệ thống quản lí đƣợc chia ra ba cấp độ khác nhau: cấp quản lí chiến lƣợc (quản lí cấp cao); cấp quản lí chiến thuật (quản lí bậc trung) và cấp quản lí tác nghiệp (quản lí cơ sở). Bản chất của quản lí là các hoạt động của chủ thể quản lí có phƣơng hƣớng, có mục đích rõ ràng tác động đến đối tƣợng quản lí để đạt đƣợc mục tiêu xác định.
Quản lí là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao. Quản lí vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Quản lí là một khoa học, vì nó vận dụng tri thức đƣợc hệ thống hóa, vận dụng các quy luật của chủ thể quản lí để giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Quản lí là một nghệ thuật, vì đây là một hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt và sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm để tác động đến đối tƣợng quản lí - các cá nhân cụ thể mới có thể đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Tín chỉ ĐT theo TC đƣợc coi là cuộc cách mạng trong giáo dục đại học, ra đời từ năm 1872 tại Đại học Harvard - Hoa Kỳ và nhanh chóng phát triển, lan rộng ra các nƣớc trên thế giới. Với triết lí tôn trọng ngƣời học, xem ngƣời học là trung tâm của quá trình ĐT, tạo điều kiện cho ngƣời học phát huy nhiều nhất các kĩ năng tự làm chủ và tính năng động, sáng tạo trong quá trình học tấp; CTĐT mềm dẻo, dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trƣờng nhân lực. Ở nƣớc ta, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 đã chỉ rõ: Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ ĐT theo HCTC, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài.