phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1. Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế 1.
Tổng quan về nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế và quản lý nợ thuế 1. Tổng quan về nợ thuế. Nợ thuế là hiện tượng người nộp thuế không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.
Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan Thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà người nộp thuế chưa nộp vào NSNN. Khoản nợ là số tiền thuế nợ được cơ quan có thẩm quyền xác định tại một thời điểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một người nộp thuế nhất định. Khái niệm này cho biết cơ quan quản lý thuế cần phải theo dõi, đôn đốc thu số thuế nợ của những người nộp thuế nào, với những khoản thuế gì. Tuổi nợ là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê.
Nợ thuế luôn gắn với một yếu tố quan trọng là thời gian nợ. Rõ ràng, xét trên bình diện tổng thể, không kể những trường hợp đặc biệt, với cơ quan thuế, việc nợ thuế càng ít và càng ngắn thì càng tốt. Với những khoản nợ quá hạn, tuổi nợ càng dài thì Nhà nước càng thiệt và mức độ rủi ro trong thu hồi nợ càng cao. Do vậy, khái niệm này là một tiêu chí rất cần quan tâm trong quản lý nợ thuế, và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 có thể coi nó là một trong những tiêu chí không thể không sử dụng trong phân loại nợ thuế.
Mức nợ là số tiền thuế nợ của người nộp thuế tại một thời điểm ở một ngưỡng nhất định. Mức nợ phản ánh độ lớn của khoản nợ ở những quãng phân loại nhất định. Một khoản nợ ở mức nợ lớn là khoản nợ cần quan tâm xử lý nhiều hơn so với những khoản nợ ở mức nhỏ. Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ (ngày thanh toán) là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN, hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xóa nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác. Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật. Phân loại nợ thuế - Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ thuế Khả năng thu hồi nợ được xác định dựa trên những thông tin về người nợ thuế như: Mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế. Khả năng thu hồi nợ chính là phần trăm thành công trong việc thu hồi lại các khoản nợ.
Đối với các khoản nợ thuế, với tình trạng nợ thuế xảy ra liên tục như hiện nay, việc đánh giá khả năng thu hồi nợ thuế là rất quan trọng. Dựa vào điều này, nợ thuế được phân thành ba loại: Nợ có khả năng thu, Nợ khó thu và Nợ không có khả năng thu. Nợ có khả năng thu: Nợ có khả năng thu là số tiền nợ thuế của những người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng còn trong thời hạn nộp thuế hoặc đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 không thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nơ không có khả năng thu. Nói cách khác, thuộc vào nhóm này là nợ thuế của những người nộp thuế vẫn đang lao động hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, không có dấu hiệu bất thường trong chấp hành pháp luật thuế, không lâm vào tình trạng quá khó khăn dẫn đến không có khả năng nộp thuế, Tùy theo yêu cầu quản lý, cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: tiền thuế nợ từ 1 đến 30 ngày, tiền thuế nợ từ 31 ngày đến 90 ngày, tiền thuế nợ từ 91 đến 120 ngày và tiền thuế nợ từ 121 ngày trở lên; tiền thuế đang khiếu nại; tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế.
Mốc nợ thuế 90 ngày là mốc quan trọng vì nó liên quan đến thời điểm xác định một trong những dấu hiệu phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế theo Luật Quản lý thuế. Nợ khó thu: Nợ khó thu là nợ thuế của những người nộp thuế đang rất khó khăn về tài chính, chẳng hạn như đang bị đình trệ sản xuất, kinh doanh trong một thời gian dài; đang phải tạm dừng kinh doanh do gặp khó khăn; đang lâm vào tình trạng phá sản, thua lỗ kéo dài. hoặc không phải gặp khó khăn tài chính nhưng là đối tượng có ý thức chấp hành pháp luật rất kém, cố tình nợ thuế dây dưa kéo dài, có nhiều thủ đoạn đối phó, trốn tránh nghĩa vụ thuế và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế với những đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn. Thuộc về nợ khó thu còn có loại nợ thuế của những đối tượng thực tế không còn tồn tại nhưng không làm các thủ tục chấm dứt hoạt động và quyết toán thuế với cơ quan thuế (nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn).
Hầu hết đây là các trường hợp cố tình nợ để trốn thuế. Việc truy tìm và xử lý theo pháp luật các trường hợp này gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, khoản nợ thuế của những đối tượng này không chỉ dừng lại ở mức khó thu mà có thể nói là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 rất khó thu. Đôi khi, xét về lý thuyết thì một khoản nợ là khó thu, nhưng xét về thực tế quản lý lại là một khoản nợ không thể thu hồi, bởi các cơ quan pháp luật có thể truy bắt được thủ phạm nhưng họ không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ thuế đã nợ.
Nợ không có khả năng thu: Việc phân loại nợ trong nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp trong nhóm này. Nợ thuế thuộc loại này là nợ thuế của các DN đã giải thể, phá sản nhưng không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ thuế và cũng chưa làm thủ tục để xóa nợ thuế theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nhóm này cũng bao gồm các khoản nợ của người nộp thuế là các cá nhân đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được xóa nợ thếu theo quy định của pháp luật. Ý nghĩa của cách phân loại theo khả năng thu hồi nợ Phân loại nợ thuế theo tiêu thức này không chỉ giúp cơ quan thuế có biện pháp đôn đốc thu nợ thuế hoặc tổ chức cưỡng chế thuế, mà còn có biện pháp xử lý phù hợp, như khoanh nợ, gia hạn nộp thuế, xóa nợ,.
- Căn cứ vào nội dung nợ thuế Nợ thuế, phí thông thường: Nợ trong nhóm này thường bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện. Nợ phạt thuế, phí: Theo Luật Quản lý thuế hiện nay về việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, và tương ứng với đó là các khoản nợ phát sinh cho từng lần vi phạm. Do đó, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ như: nợ do phạt chậm nộp, nợ phạt thiếu thuế phải nộp, nợ phạt trốn thuế, nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra: Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế.
Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải được nộp vào ngân sách nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố ý đã kê khai sai. Số thuế phát hiện thêm này được coi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra. Việc theo dõi nợ thuế theo nhóm này giúp cho cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể. Ý nghĩa của cách phân loại theo nội dung nợ Việc phân loại nợ theo nội dung nợ giúp thực hiện đúng trình tự thu thuế khi cưỡng chế thuế theo Luật Quản lý thuế.
Theo đó, tiền thuế phải được thu trước tiền phạt. - Căn cứ vào thời gian nợ thuế Căn cứ vào tiêu thức này, nợ thuế được chia thành: nợ trong hạn và nợ quá hạn Nợ trong hạn: Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế vẫn còng trong thời hạn nộp thuế, chẳng hạn như: nợ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ân hạn thuế; nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.