CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VÈ QUẢN LÝ NHÂN Lực TẠI Cơ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Tông quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về quản lý nhân lực tại các cơ quan quản lý nhà nước Nhân lực và quản lý nhân lực, đặc biệt trong khu vực công, không phải là đề tài nghiên cứu mới. Vì thế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lình vực này, tiêu biểu như: Viện Khoa học tố chức Nhà nước, 2010 với quyến “Những vấn đề cơ bản về hành chính nhà nước và chế độ công vụ ” đã đề cập tới hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước cũng như chế độ công vụ và quản lý nhân lực trong các cơ quan này.
Tác phẩm này cung cấp những thông tin chắt lọc, súc tích nhất liên quan tới quản lý nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước, là cơ sở để người đọc hiểu một cách ngắn gọn và dễ hiểu về vấn đề công vụ và công chức. Đe tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Kinh nghiệm quản lý công chức theo Vị trí việc làm của các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam ” do Phạm Thu Hằng, Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Nội vụ chủ trì thực hiện năm 2013. Đề tài nghiên cún và đưa ra kinh nghiệm xác định vị trí việc làm đối với công chức, viên chức của các nước và vận dụng thực hiện tại các cơ quan quản lý nhà nước tại Việt Nam. Thạch Thọ Mộc (2014) trong bài viết “Tiếp tục đôi mới công tác tuyên dụng và đảnh giá đội ngữ công chức ở nước ta hiện nay” đăng trên Tạp chí Viện khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ đã đi sâu phân tích một số hạn • • /••• 1 • • chế còn tồn tại của công tác tuyển dụng và đánh giá công chức, từ đó đưa ra 5 các giải pháp đôi mới công tác tuyên dụng và đánh giá nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước như: ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển dụng, phỏng vấn bổ sung sau khi thi tuyến, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá theo chuẩn mới và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong quá trình tuyển dụng.
Tăng Thị Thanh Hòa (2015) trong luận văn Thạc sĩ “Quản lý nhân lực của Tống cục Thống kê ” trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN đã tống hợp và làm rõ các cơ sở lý luận về nhân lực và quản lý nhân lực, đưa ra các khái niệm liên quan đến nhân lực, thực trạng nhân lực của Tổng cục Thống kê, những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại của công tác quản lý nhân lực, đồng thời đưa ra những giải pháp đế tăng cường quản lý nhân lực của Tống cục Thống kê. Bài viết “Đôi mới quản lý nhà nước về nhãn lực ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Ngô Minh Tuấn, 2015, Viện nghiên cứu quân lý kinh tế Trung ương đã phân tích thực trạng quàn lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua dựa trên bốn khía cạnh chính: định hướng phát triển nguồn nhân lực, can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển nguồn nhân lực và kiểm tra, giám sát, thanh tra thực thi chính sách pháp luật về phát triển nguồn nhân lực. Luận văn thạc sĩ của Lý Minh Hoa (2015) về “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Cục thuế tỉnh Trà Vinh” lại chưa xây dựng được khung khổ lý thuyết về quản lý nhân lực tại cơ quan quản lý Nhà nước mà chỉ dựa trên lý thuyết chung về quản lý nhân lực nên còn chưa thể hiện được tính đặc thù riêng của nghiên cứu. Phần phân tích thực tiễn cũng chỉ tại Cục thuế của một tỉnh với giới hạn nhở hẹp khiến cho nghiên cún chỉ có giá trị thực tiễn đối với Cục thuế tỉnh Trà Vinh nói riêng và cho các Cục thuế có bộ máy tổ chức và quy mô tương đồng nói chung.
Luận văn thu thập 6 dừ liệu thứ câp và sơ câp. Với phương pháp xử lý dữ liệu cà định tính và định lượng, luận văn đã đạt được những kết quả nghiên cứu tin cậy và sâu sắc. Bài viết “Những thách thức và một số giải pháp trong quản ỉý nguồn nhân lực khu vực công’’ của tác giả Lê Hữu Bình đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình số 02/2017 cũng đề cập đến vấn đề quản lý nguồn nhân lực khu vực công. Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung phân tích những thách thức mà công tác quản lý nhân lực khu vực công đang phải đối mặt hiện nay.
Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra những giải pháp mang tính căn bản như tạo môi trường làm việc thuận lợi cho cán bộ công chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn việc làm trong từng cơ quan, hoàn thiện bảng lương, chế độ đãi ngộ cho cán bộ công chức hay hoàn thiện hệ thống vãn bản pháp quy về quy hoạch và tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức. Nhìn chung, bài báo mặc dù mang tính thực tiễn nhưng chỉ tiếp cận một vấn đề rất chung chưa có tính đặc thù cho một cơ quan, tổ chức quản lý hình chính Nhà nước cụ thể. Cũng nghiên cứu công tác quản lý nhân lực ở cơ quan quản lý Nhà nước, Từ Thị Thu Thuỷ (2018) đã thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại Tổng cục Thống kê tỉnh Quảng Bình”. Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về công tác quản lý nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, khi phân tích thực tiễn, tác giả chỉ giới hạn tại Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình với quy mô nhỏ ở địa phương chứ chưa bao quát tại Tổng cục nên thề hiện tính đặc thù cao và các giải pháp đưa ra khó có thể ứng dụng cho Tổng cục khác. Triệu Văn Cường (2018) với bài viết “Đôi mới quàn lý nguồn nhãn lực trong khu vực công ở Việt Nam ” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước đã phân tích về thực trạng nguồn nhân lực trong khu vực công nói chung mà chủ yếu tập trung vào các cơ quan quản lý các cấp. Từ đó, bài viết đưa ra một số giải pháp đổi mới công tác quản lý nhân lực trong khu vực công. Với giới hạn bài 7 báo nghiên cứu, tác giả đã không đưa ra khung lý luận và chủ yêu chi nghiên cứu thực tiễn.
Kết quà nghiên cứu mang tính chung chung hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với nguồn nhân lực công. Khoảng trống nghiên cứu và vẩn đề đặt ra Những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đề cập tương đổi đầy đủ, toàn diện về những nội dung có liên quan đến quản lý nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời đã nghiên cứu, phân tích và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quà công tác quản lý nhân lực nói chưng, và của các cơ quan quản lý nhà nước nói riêng. Các công trình nghiên cứu này có những giá trị nhất định làm cơ sở cho việc đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý nhân lực. Tuy nhiên, hiện vẫn còn tồn tại một số khoảng trống trong nghiên cứu lý luận và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, cụ thể là chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu phân tích, tìm hiểu một cách có hệ thống về quản lý nhân lực trong Tổng cục Quản lý thị trường mới được thành lập theo ngành dọc từ năm 2018 đến nay.
Do vậy, luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đỏ có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Co' sỏ’ lý luận về quán lý nhân lực tại CO' quan quản lý nhà nưó’c 1. Các khái niệm cơ bản ỉ. Nhân lực Nhân lực là một trong các yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một tổ chức nào.
Vì vậy, nhân lực luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Theo Trần Kim Dung (2018), nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực, trí lực và tâm lực giúp con người tham gia vào quá trình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu hình thành và phát triển của tổ 8 2 y r chức đó. Nhân lực của một tô chức bao gôm tât cả người lao động làm việc 7 trong tô chức đó Nhân lực • của một • tô chức được • thê hiện • rõ nét nhât qua 1 một • sô khía cạnh sau đây: - Số lượng nhân lực: là số người lao động làm việc trong tổ chức căn cứ trên hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng. Tùy thuộc vào quy mô và yêu cầu công việc của tổ chức sẽ quyết định số lượng nhân lực nhiều hay ít.
Do vậy, có thể nói số lượng nhân lực là yếu tố phàn ánh chân thực nhất quy mô hoạt động của tổ chức. - Cơ cấu nhân lực: được thể hiện ở cơ cấu theo giới tính, độ tuổi, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, tin học. Cơ cấu nhân lực cũng là một yếu tố quan trọng để đánh giá về nhân lực của tổ chức, từ đó có những định hướng thay đối hoặc phát triển nhân lực phù họp cho tương lai. - Chất lượng nhân lực: bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp.
Trong đó, vấn đề nhân lực thường được xem xét cụ thể ở các vấn đề về sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, hiệu quả làm việc. Tóm lại, nhân lực trong một to chức là tiềm năng của tất cả người lao động làm việc trong tô chức trên các mặt sô lượng, cơ câu và chât lượng đáp úng nhu cầu phát triển, phục vụ cho các mục đích chung của tổ chức. Quản lý nhân lực Theo giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế (Đồ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu, 2008), quản lý là một hoạt động có ý thức, có chủ đích của người quăn lý tác động tới các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Việc tác động như thế nào tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động của tổ chức cũng như tùy thuộc vào hoàn cảnh, môi trường, điều kiện cụ thế.
9 Có thê nói, quản lý nhân lực là quán lý con người liên quan tới hoạt động của tổ chức. Do quản lý nhân lực cũng là một dạng quản lý nên đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực như khoa học, chính trị, kiếm soát và nghệ thuật.