Nghiên cứu quản lý nhà nước về y tế tại Hoàn Kiếm, Hà Nội - Luận văn ThS Nguyễn Thu Quỳnh

Phân tích giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về y tế tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước y tế quận Hoàn Kiếm

Quản lý nhà nước về y tế là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tổ chức, điều phối và giám sát các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quận Hoàn Kiếm, trung tâm lịch sử của thủ đô Hà Nội, có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống y tế đô thị. Quận tập trung nhiều cơ sở y tế từ tuyến trung ương đến địa phương. Công tác quản lý nhà nước về y tế tại đây đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền. Quận có mật độ dân số cao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe đa dạng. Hệ thống y tế quận bao gồm Phòng Y tế, Trung tâm y tế dự phòng và các trạm y tế phường. Hoàn thiện quản lý nhà nước y tế giúp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn.

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về y tế

Quản lý nhà nước về y tế là tổng thể các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về y tế. Hoạt động này bao gồm quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế, quản lý chất lượng dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực và thanh tra, kiểm tra. Mục tiêu chính là đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Quận Hoàn Kiếm thực hiện quản lý nhà nước về y tế thông qua Phòng Y tế và các cơ quan chuyên môn thuộc quận.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội quận Hoàn Kiếm

Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội với diện tích khoảng 5,29 km², gồm 18 phường. Mật độ dân số thuộc hàng cao nhất thành phố. Hoàn Kiếm là trung tâm thương mại, dịch vụ và du lịch quan trọng của thủ đô. Kinh tế quận phát triển mạnh với nhiều hoạt động thương mại, khách sạn, nhà hàng. Điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi tạo nền tảng cho phát triển hệ thống y tế. Tuy nhiên, áp lực đô thị hóa cũng đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý y tế địa phương.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước y tế quận Hoàn Kiếm

Thực trạng quản lý nhà nước về y tế quận Hoàn Kiếm có nhiều điểm tích cực nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Về tổ chức bộ máy, quận đã hình thành hệ thống quản lý y tế từ quận đến phường. Phòng Y tế quận thực hiện chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân quận về công tác y tế. Trung tâm y tế dự phòng quận đảm nhận công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm. Các trạm y tế phường thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tuy nhiên, hệ thống vẫn còn bất cập về cơ sở vật chất và trang thiết bị. Nguồn nhân lực y tế chưa đồng đều giữa các tuyến. Công tác phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn còn thiếu chặt chẽ. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý y tế còn hạn chế. Quản lý hành nghề y dược tư nhân gặp nhiều khó khăn.

2.1. Kết quả đạt được trong công tác quản lý y tế

Quận Hoàn Kiếm đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong quản lý nhà nước về y tế. Hệ thống y tế quận phường ngày càng hoàn thiện với cơ sở vật chất được nâng cấp qua từng năm. Chất lượng nguồn nhân lực y tế được cải thiện cả về số lượng và trình độ chuyên môn. Công tác phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả cao, không để xảy ra dịch lớn. Quản lý an toàn thực phẩm được tăng cường với các đoàn kiểm tra định kỳ. Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế quận đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

2.2. Hạn chế và thách thức trong quản lý y tế quận

Bên cạnh kết quả đạt được, quản lý nhà nước về y tế quận Hoàn Kiếm vẫn còn nhiều hạn chế. Nguồn kinh phí đầu tư cho y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển. Cơ sở hạ tầng một số trạm y tế phường xuống cấp, thiếu trang thiết bị hiện đại. Đội ngũ cán bộ quản lý y tế có nơi chưa theo kịp yêu cầu đổi mới. Công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân gặp khó khăn do số lượng cơ sở lớn. Tình trạng cơ sở hành nghề không phép vẫn tồn tại, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế và quyền lợi người bệnh.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước y tế quận Hoàn Kiếm

Hoàn thiện quản lý nhà nước về y tế quận Hoàn Kiếm đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về y tế phù hợp với điều kiện địa phương. Thứ hai, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại. Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn. Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý y tế. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành nghề y dược. Thứ sáu, phát huy vai trò của cộng đồng trong giám sát hoạt động y tế. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình cụ thể và phù hợp với thực tế địa phương.

3.1. Giải pháp về tổ chức bộ máy và nhân lực

Giải pháp về tổ chức bộ máy tập trung vào kiện toàn hệ thống quản lý y tế từ quận đến phường. Cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống. Tăng cường biên chế, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế cơ sở. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho cán bộ Phòng Y tế và Trung tâm y tế. Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan chuyên môn. Phát triển thêm phòng khám đa khoa tại khu vực đông dân cư để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe.

3.2. Giải pháp về cơ chế chính sách và đầu tư

Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý cho hoạt động y tế quận. Tăng cường nguồn kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hệ thống y tế cơ sở. Xây dựng cơ chế xã hội hóa, huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân tham gia phát triển y tế. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ sức khỏe, kết nối các cơ sở khám chữa bệnh. Tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất các cơ sở hành nghề y dược. Xử lý nghiêm các vi phạm về hành nghề không phép, đảm bảo quyền lợi người bệnh.

IV. Kết luận và định hướng phát triển y tế quận Hoàn Kiếm

Quản lý nhà nước về y tế quận Hoàn Kiếm đã có những bước phát triển đáng ghi nhận trong thời gian qua. Hệ thống y tế quận phường từng bước được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết trong giai đoạn mới. Việc hoàn thiện quản lý nhà nước về y tế là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Định hướng phát triển y tế quận cần bám sát mục tiêu của thành phố và trung ương. Quận Hoàn Kiếm cần phát huy lợi thế trung tâm để trở thành mô hình điểm về quản lý y tế đô thị. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân.

4.1. Bài học kinh nghiệm rút ra

Từ thực tiễn quản lý nhà nước về y tế quận Hoàn Kiếm, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Bài học đầu tiên là vai trò quan trọng của sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác y tế. Bài học thứ hai là cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý y tế. Bài học thứ ba là phải chú trọng đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống y tế cơ sở. Bài học thứ tư là ứng dụng công nghệ thông tin là xu hướng tất yếu trong quản lý y tế hiện đại.

4.2. Định hướng phát triển y tế quận giai đoạn tới

Định hướng phát triển y tế quận Hoàn Kiếm giai đoạn tới tập trung vào nhiều mục tiêu quan trọng. Phát triển hệ thống y tế thông minh, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và khám chữa bệnh. Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế đạt chuẩn quốc gia. Đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Xây dựng quận Hoàn Kiếm thành điểm sáng về quản lý y tế đô thị của thủ đô Hà Nội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn quận hoàn kiếm thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ 1. Hoạt động y tế và sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về y tế 1. Khái niệm y tế Y tế là khái niệm được sử dụng một cách phổ biến trong cuộc sống thường ngày cũng như trong các nghiên cứu chuyên sâu. Tuy nhiên, khái niệm này chưa được giải thích một cách cụ thể và chính thống trong bất kì văn bản pháp luật nào của nước ta.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) có đưa ra định nghĩa về khái niệm y tế như sau: “Y tế là lĩnh vực hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân bao gồm các hoạt động vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật đến việc khám và điều trị bệnh” [48]. Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về văn hóa – giáo dục – y tế có định nghĩa về khái niệm y tế (theo nghĩa hẹp) như sau: “Y tế là những hoạt động phòng chống và điều trị bệnh tật cho nhân dân” [28, tr. Hoạt động phòng chống bệnh tật bao gồm các công tác như: Công tác vệ sinh môi trường sống và làm việc liên quan đến gây bệnh (bệnh do nhiễm khuẩn, lây lan và bệnh nghề nghiệp), tiêm chủng, giáo dục y học cho cộng đồng, thể dục dưỡng sinh [28, tr. Bên cạnh đó, hoạt động điều trị bệnh tật cho nhân dân được coi là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực y tế.

Nói tóm lại, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ nghiên cứu về quản lý công, “y tế có thể được hiểu là một lĩnh vực thuộc lĩnh vực y khoa, chỉ sự chăm sóc về sức khỏe, chữa bệnh và ngừa bệnh; những người làm trong lĩnh vực này không chỉ bao gồm những chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động về y khoa như: y tá, bác sĩ, chuyên viên điều trị, chuẩn đoán và chăm sóc 10 bệnh nhân; mà còn bao gồm những chủ thể có chức năng, nhiệm vụ thực hiện hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực y khoa”. Hoạt động y tế Khi nói đến y tế, chúng ta thường để cập đến y học vì đó hai mặt của hoạt động chăm sóc sức khỏe. Y học là ngành khoa học nghiên cứu về phòng bệnh, chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu của y học cần phải được ứng dụng vào việc phòng bệnh, chữa bệnh cho con người thông qua các hoạt động y tế.

Do đó, “Y tế là các hoạt động cụ thể trực tiếp ứng dụng khoa học y học vào việc phòng bệnh, khám chữa bệnh để bảo vệ sức khoẻ cho con người” [34, tr. lĩnh vực y tế cũng có thể được hiểu là các hoạt động y tế. Các hoạt động y tế mà Nhà nước tập trung quản lý bao gồm: Y tế dự phòng và môi trường an toàn thực phẩm; khám chữa bệnh, kể cả khám chữa bệnh bằng y dược học cổ truyền: thuốc và mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người; trang thiết bị y tế. Các hoạt động quản lý nhà nước khác như đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.

Hiện nay, nhà nước đặt ra các quy định pháp luật để quản lý các hoạt động y tế sau: Thứ nhất, về y tế dự phòng và môi trường: phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch y tế, HIV/AIDS; hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế; dinh dưỡng cộng đồng; vệ sinh an toàn nước uống, nước sinh hoạt; tai nạn thương tích, sức khỏe trường học, sức khỏe lao động và bệnh nghề nghiệp; chăm sóc sức khỏe ban đầu; truyền thông giáo dục sức khỏe; … Thứ hai, về an toàn thực phẩm: xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, định mức kinh tế kĩ thuật đảm bảo an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm, kiểm tra, công bố, công nhận chất lượng về an toàn thực phẩm… 11 Thứ ba, về khám chữa bệnh: các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng, chỉnh hình, thẩm mỹ, giám định (y khoa, pháp y, pháp y tâm thần), sức khỏe sinh sản và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình… Thứ tư, về thuốc và mỹ phẩm: sản xuất, lưu thông, nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc; điều kiện hành nghề dược; chế độ sử dụng thuốc, xây dựng dược điển, dược thư quốc gia; nghiên cứu, kiểm nghiệm, đăng ký thuốc,… Thứ năm, về y, dược học cổ truyền: chữa bệnh, khám bệnh, sản xuất, điều kiện hành nghề y, dược cổ truyền, kiểm nghiệm thuốc đông y, ,… Thứ sáu, về trang thiết bị y tế: sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định về trang thiết bị y tế…[15]. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động y tế 1. Thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng, là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước ta. Nghị quyết 20/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã khẳng định mục tiêu không ngừng phấn đấu nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam; bảo đảm mọi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc tham gia và hưởng thụ bảo hiểm y tế và các dịch vụ có liên quan.

Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia; được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp và nhiều đạo luật quan trọng. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” [26]. 12 Như đã phân tích ở trên, Nhà nước là một tổ chức đặc biệt có nhiệm vụ duy trì các trật tự xã hội. Và chỉ có Nhà nước với công cụ là pháp luật cùng các biện pháp cưỡng chế mới đảm bảo được quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế của người dân.

Ngày nay, cuộc sống ngày càng được đổi mới, cải thiện; công nghệ hiện đại được áp dụng vào lĩnh vực y tế ngày một nhiều, dược phẩm phục vụ cho sức khỏe con người ngày một tốt hơn. Đồng thời, người dân nhận thức về sức khỏe ngày một cao; nhu cầu liên quan đến sức khỏe ngày một tăng cao. Người dân có yêu cầu đảm bảo sức khỏe ngay cả khi họ chưa mắc bất kì một bệnh gì; đó chính là nhu cầu bảo vệ sức khỏe trong cuộc sống hiện đại; khác với trước đây, chỉ khi mắc bệnh người dân mới quan tâm đến vấn đề chữa trị. Do đó, quản lý nhà nước về y tế là vô cùng cần thiết.

Để tránh tình trạng thiếu công bằng trong lĩnh vực y tế, không để tình trạng chỉ có người giàu mới được đáp ứng các nhu cầu liên quan đến sức khỏe bản thân. Chính điều này cần sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực y tế. Thực tế của ngành y tế Thực trạng ngành y tế nước ta, về số lượng, theo thống kê chung về nhân lực của ngành y tế, hiện cả nước có khoảng 345.000 nhân viên y tế, trong đó số lượng bác sĩ là trên 55 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ 7,2 bác sĩ/1 vạn dân, còn số y tá và hộ lý là 105 nghìn người, tương ứng 13 y tá, hộ lý/1 vạn dân [43]. Những con số này đã phần nào phản ánh sự thiếu hụt nhân sự làm việc trong khối ngành Khoa học Sức khỏe những năm gần đây.

Số lượng y bác sĩ và nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao cũng không nhiều. Số cán bộ y tế trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm tới trên 1/2 tổng số cán bộ, trong khi số cán bộ có trình độ đại học chỉ chiếm khoảng 1/3 và số cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên khoảng 10%. Số lượng nhân sự không đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn để hành nghề, nhưng vẫn được tham gia vào công tác chạy chữa đã dẫn đến việc đã xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc. 13 Việc này cũng dần làm mất lòng tin của người dân vào bộ phận những người làm ngành Y khác.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nguồn lực trầm trọng thể hiện rõ nhất tại các vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện tuyến dưới ở địa phương. Sự khác biệt về thu nhập và điều kiện làm việc cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phân bố cán bộ y tế không đồng đều này giữa các khu vực [43]. Để đạt được mục tiêu mọi người dân đều được quan tâm, chăm sóc sức khỏe cá nhân và có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế; Nhà nước phải dựa vào quyền lực và nguồn lực đặc biệt để thực hiện các dịch vụ y tế mang tính công cộng thuần túy; điều mà không có một tổ chức hay cá nhân nào có thể thực hiện được điều đó. Bên cạnh đó, Nhà nước còn sắp xếp, tổ chức một cách có hệ thống mạng lưới y tế từ Trung ương đến địa phương, từ đơn giản đến chuyên sâu; cũng để đạt được mục tiêu quan trọng được đề ra đó là đảm bảo sức khỏe của toàn dân.

Ngày nay, bất kì hoạt động cung ứng dịch vụ nào cũng đều hướng đến lợi nhuận. Tuy nhiên, nguyên tắc hoạt động của y tế lại không hướng đến lợi nhuận. Do đó, để đảm bảo các cơ sở y tế không phát triển một cách tự phát thành các đơn vị kinh doanh chạy theo lợi nhuận. Các cơ sở y tế tư nhân có bước phát triển lớn, đóng vai trò quan trọng trong cung ứng dịch vụ y tế cho người dân.

Số bệnh viện và số giường bệnh ngoài công lập tăng nhanh: Năm 2005 có 43 bệnh viện trên địa bàn của 9 tỉnh, thành phố với 3.324 giường bệnh, nay đã tăng lên 250 bệnh viện với 15.475 giường bệnh (đạt 1,7 giường/vạn dân, chiếm 15% số bệnh viện và 5,6% số giường bệnh trong toàn quốc), có khoảng gần 40.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa, cung cấp 43% dịch vụ ngoại trú và 2,1% tổng số dịch vụ nội trú cho người dân (một số bệnh viện 100% vốn nước ngoài có trang thiết bị hiện đại đã được đưa vào hoạt động). Một số phòng khám bác sĩ gia đình tư nhân tham gia thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu [11]. 14 Hơn thế nữa, lĩnh vực y tế là lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ