phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng/hình, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, được kết cấu 3 phần: Phần 1. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về VSATTP trên địa bàn quận, huyện Phần 2. Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về VSATTP trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Phần 3. Phương hướng, giải pháp và tổ chức thực hiện đề án nhằm tăng cường QLNN về VSATTP trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 7 8 PHẦN 1.
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN, HUYỆN 1. Một số khái niệm 1. Thực phẩm Theo Điều 12, Luật An toàn thực phẩm 2010, “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”.
Đây là những chất cơ bản mà con người có thể tiêu thụ trực tiếp thông qua việc ăn hoặc uống. Theo Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex), thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm. Như vậy, thực phẩm là các sản phẩm bao gồm các chất như: chất đạm, chất bột, chất béo và nước mà con người sử dụng, ăn hoặc uống ở dưới hình thức tươi sống hoặc đã qua công đoạn sơ chế, công đoạn chế biến và bảo quản. Thực phẩm không bao gồm các loại như: mỹ phẩm, thuốc lá, các chất sử dụng như dược phẩm.
An toàn thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm An toàn thực phẩm được hiểu như khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người (Nguyễn Đức Lượng & Phạm Minh Tâm, 2000). Theo Điều 2, Luật An toàn thực phẩm 2010, “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. Từ cách hiểu này, theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2000), VSATTP là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chức các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc các tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng. Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề.
Tuy nhiên, đề ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong QLNN, khái niệm VSATTP được thống nhất sử dụng trong đề án là: “VSATTP là việc bảo đảm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép”. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống Dịch vụ ăn uống, theo nghĩa thông thường, là hình thức cung ứng những dịch vụ theo nhu yếu của người mua tại những địa điểm cụ thể như nhà hàng, quán ăn, khách sạn. Đây cũng có thể là nơi tổ chức tiệc cưới, tiệc hội nghị, sự kiện hoặc tổ chức triển khai team building. Dịch vụ ăn uống không chỉ đơn thuần là ship hàng món ăn và thực thi quy trình trang trí, tư vấn lên list thực đơn, dọn bàn hay dàn dựng âm thanh, ánh sáng.
Theo Điều 2, Luật An toàn thực phẩm, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là “cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chính, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng tin và bếp ăn tập thể”. Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển và hướng dẫn các quá trình, hành vi, hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích ý chí của con người và phù hợp với quy luật khách quan (Phan Huy Đường, 2015). Trong khi đó, theo lý thuyết hệ thống, quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác trên nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống (Nguyễn Thị Minh Phương, 2015). Quản lý đã trở thành một phần không thể thiếu của hoạt động lao động tập thể và các hoạt động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa hiệu suất và đảm bảo sự thành công của các hoạt động kinh doanh và xã hội, và là hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế - xã hội.
Ngày nay, nhận thức về những lợi ích và ý nghĩa của quản lý đã ngày càng được nhấn mạnh trong kinh tế và thương mại, với vai trò quyết định đến kết quả thực hiện và hiệu suất hoạt động. Trong đề án, QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước để duy trì, xác lập trật tự xã hội ổn định từ đó phát triển xã hội theo mục tiêu đã đề ra. QLNN là quản lý xã hội dựa trên quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh quan hệ trong xã hội. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện QLNN nhằm thực hiện chức năng đối, đối ngoại và được đảm bảo bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước.
Với cách hiểu về VSATTP và QLNN như trên, QLNN về VSATTP được xem là một hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước của các cơ quan quản lý có thẩm quyền trong quản lý VSATTP bao gồm ban hành và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như các chế tài xử lý vi phạm của các chủ thể trong VSATTP, hướng đến duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội về sức khỏe con người. Trong đó: chủ thể quản lý là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ Y tế, cơ quan ngang bộ và trực 10 thuộc chính phủ, UBND các cấp.), các cơ quan thanh tra, giám sát; đối tượng quản lý là các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm hoặc có liên quan đến an toàn thực phẩm trên thị trường. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm - Văn bản quản lý của nhà nước Luật số 55/2010/QH12 của Quốc hội: Luật An toàn thực phẩm, ngày 28 tháng 6 năm 2010 Luật số 56/2010/QH12 của Quốc hội: Luật Thanh Tra, ngày 15 tháng 11 năm 2010 Luật số 15/2012/QH13 của Quốc hội: Luật xử lý vi phạm hành chính, ngày 20 tháng 6 năm 2012 Luật số 100/2015/QH13 của Quốc hội: Bộ luật hình sự, ngày 27 tháng 11 năm 2015 Nghị định số 89/2006/NĐ–CP của Thủ tướng chính phủ, ban hành ngày 30 tháng 8 năm 2006 về nhãn hàng hóa. Nghị định số 86/2011/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 22 tháng 9 năm 2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Thanh tra.
Nghị định số 07/2012/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 9 tháng 2 năm 2012 Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành. Nghị định số 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 25 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Nghị định số 80/2013/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 19 tháng 7 năm 2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa Nghị định số 178/2013/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Nghị định số 185/2013/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2013, Quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm.
Nghị định số 124/2015/NĐ–CP của Chính phủ, ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015 về Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thông tư 03/2011/TT–BNNPTNT ngày 21 tháng 1 năm 2011 Quy định về truy 11 xuất nguồn gốc và thu hồi sản phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thủy sản. Thông tư 05/2014/TT–TTCP ban hành ngày 16 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra. Thông tư 34/2014/TTLT–BYT–BNNPTNT–BCT ban hành ngày 27 tháng 10 năm 2014 Hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn.
Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 9 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ về tăng cường trách nhiệm QLNN về An toàn thực phẩm. Thông tư số 74/2011/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 10 năm 2011 quy định về truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý thực phẩm nông lâm sản không đảm bảo an toàn. Thông tư số 75/2011/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 10 năm 2011 quy định về đăng ký và xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09 tháng 4 năm 2014 hướng dẫn việc phân công, phối hợp về QLNN về VSATTP.
Thông tư số 24/2014/TT-BNNPTNT ngày 19 tháng 8 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về điều kiện về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với chợ đầu mối, chợ đấu giá nông sản. Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 3 tháng 12 năm 2014 quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Thông tư số 51/2014/TT-BNNPTNT ngày 27 tháng 12 năm 2014 quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ. Thông tư số 08/2016/TT–BNNPTNT ngày 1 tháng 6 năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định giám sát an toàn thực phẩm Nông lâm thủy sản.