mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015 - 2019 Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đô thị - Theo Luật quy hoạch đô thị năm 2009: Đô thị là khu vực tập trung dân cƣ sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
[31] - Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập. Các yếu tố cơ bản phân loại đô thị gồm: Chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%; Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cƣ tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị; Quy mô dân số ít nhất là 4.000 ngƣời; Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị. Khái niệm đô thị hóa Đô thị hoá là quá trình tăng tỉ lệ dân thành thị so với tổng số dân, mở rộng quy mô các thành phố và sự lan toả lối sống thành thị về nông thôn. Đô thị hoá là một xu hƣớng tất yếu của toàn cầu.
Quá trình đô thị hoá, gắn liền với sự phát triển của các lực lƣợng sản xuất, quan hệ xã hội và đƣợc cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy. Đô thị hoá không chỉ là sự phát triển riêng 9 của một đô thị về quy mô và số lƣợng dân số, mà còn gắn liền với những biến đổi kinh tế - xã hội và môi trƣờng thiên nhiên của một hệ thống đô thị. Nói một cách khác, Đô thị hoá là quá trình mở rộng và phát triển mạng lƣới đô thị và phổ biến lối sống thành thị, tập trung dân cƣ trên lãnh thổ. Khái niệm quản lý đô thị Quản lý đô thị trƣớc hết là sự thực thi quyền lực công, nhân danh Nhà nƣớc.
Vì vậy quản lý đô thị trƣớc hết là quản lý nhà nƣớc ở đô thị. Tuy nhiên, quản lý đô thị hiện đại đã có sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Mặc dù vậy, quản lý đô thị vẫn thể hiện bản chất và vai trò của Nhà nƣớc đối với một khu vực định cƣ đặc thù này. Quản lý đô thị bao gồm nhiều lĩnh vực, nhƣng chủ yếu là sản phẩm kinh doanh, quy hoạch kiến trúc đô thị, sử dụng đất đai, đầu tƣ và phát triển nhà,cơ sở hạ tầng công cộng, tài chính, hành chính, môi trƣờng đô thị, an ninh trật tự xã hội,…Quản lý đô thị có ba mục tiêu cơ bản là: làm cho đô thị phát triển ổn định, trật tự và bền vững; tạo môi trƣờng sống thuận lợi cho đô thị; phù hợp lợi ích quốc gia, cộng đồng và dân cƣ.
Khái niệm trật tự xây dựng đô thị (TTXDĐT) Trật tự là trạng thái phát triển có sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định của các bộ phận để cấu thành chỉnh thể, trong đó các bộ phận đều vận động theo những nguyên tắc, các quy định mà nó cần phải tuân thủ. Trạng thái xây dựng có trật tự đƣợc hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định mà mọi ngƣời phải tuân theo. TTXDĐT là việc xây dựng công trình, nhà ở phải theo đúng quy hoạch đô thị đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố. Khái niệm giấy phép xây dựng (GPXD) - GPXD là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tƣ để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình.
GPXD gồm: - GPXD có thời hạn là GPXD cấp cho xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ đƣợc sử dụng trong thời hạn nhất định theo kế hoạch thực hiện QHXD. - GPXD theo giai đoạn là GPXD cấp cho từng phần của công trình hoặc từng công trình của dự án khi thiết kế xây dựng của công trình hoặc của dự án chƣa đƣợc thực hiện xong. Khái niệm quy hoạch xây dựng (QHXD) Là việc tổ chức không gian của đô thị, nông thôn và khu chức năng đặc thù; tổ chức hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trƣờng thích hợp cho ngƣời dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu. QHXD đƣợc thể hiện thông qua đồ án QHXD gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh.
Quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị 1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Thời gian qua, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo các cấp, ngành về công tác quản lý trật tự xây dựng trên toàn quốc, tình hình trật tự xây dựng đã từng bƣớc đi vào nề nếp, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, doanh nghiệp và ngƣời dân đã có chuyển biến tích cực. Mặc dù vậy, vẫn còn một số địa phƣơng buông lỏng công tác quản lý trật tự xây dựng, không phát hiện, xử lý kịp thời, triệt để các trƣờng hợp vi phạm, có tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, đã để xảy ra một số trƣờng hợp vi phạm nghiêm trọng, gây bức xúc trong dƣ luận. Tình trạng xây dựng không phép, sai phép, trái phép, sai quy hoạch, gây ô nhiễm môi trƣờng và gây ảnh hƣởng đến cộng đồng dân cƣ là các hành vi vi phạm trật tự xây dựng có tính phổ biến hiện nay.
Hầu hết các 11 điểm nóng, các vụ việc đơn thƣ phức tạp trong lĩnh vực xây dựng đều xuất phát từ tình trạng các hành vi vi phạm trật tự xây dựng chƣa đƣợc xử lý kịp thời, triệt để. Để xây dựng, phát triển đô thị bền vững thì nhà nƣớc cần phải có quy hoạch, lập kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị, đảm bảo hoạt động xây dựng tại đô thị có tính đồng bộ, thống nhất, đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tổ chức với lợi ích chung của cộng đồng. Chỉ có Nhà nƣớc với các công cụ và lực lƣợng của mình mới có thể quản lý đƣợc trật tự xây dựng đô thị theo đúng quy hoạch. Chỉ có Nhà nƣớc đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng và với công cụ, lực lƣợng của mình mới có thể đảm bảo quản lý đƣợc trật tự xây dựng đô thị theo đúng quy hoạch.
Do đó, quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị có vai trò quan trong trong việc phát triển đô thị bền vững, có ý nghĩa quyết định trong xây dựng và phát triển của các đô thị. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hƣớng của chủ thể lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu dự kiến. Các yếu tố cấu thành quản lý gồm: Chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, mục tiêu quản lý và môi trƣờng quản lý. [22, tr 4] Theo Giáo trình Quản lý công, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính quyền lực nhà nƣớc, sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Những hoạt động này nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật của quốc gia đi vào cuộc sống. Đây là chức năng cơ bản và là điểm khác biệt chủ yếu nhất trong hoạt động của khu vực công so với khu vực tƣ. Hoạt động này phản ánh tính chất quyền lực nhà nƣớc của khu vực công đƣợc thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”. Một khu vực công mạnh phải có hoạt động quản lý nhà nƣớc đạt hiệu 12 quả cao trên cơ sở đảm bảo tính khoa học về hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra giám sát.
[20, tr 46] Quản lý nhà nƣớc là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nƣớc. Cũng có khi Nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu toàn dân hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu đƣợc nhà nƣớc giao quyền thực hiện chức năng nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc là quản lý chung các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc; quản lý toàn dân, toàn diện, quản lý bằng pháp luật; đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc. [22, tr 588] Quản lý nhà nƣớc về TTXDĐT là sự tác động mang tính tổ chức, quyền lực nhà nƣớc trên cơ sở pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nƣớc nhằm duy trì, bảo đảm trật tự xây dựng tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật, bao gồm các hoạt động thanh tra, kiểm tra, đề xuất kiến nghị và xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trình tự luật định về các vấn đề liên quan đến trật tự xây dựng nhằm đảm bảo xây dựng, quản lý đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát triển bộ mặt đô thị theo đúng quy hoạch đƣợc phê duyệt tạo điều kiện cho nhân dân xây dựng, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không phép, sai phép, trái phép.