Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1.1 Khái quát về thi đua, khen thưởng 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm thi đua Theo từ điển Tiếng Việt, thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong một lĩnh vực, hoạt động nào đó. Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “thi đua” là sự nỗ lực để đối chọi hoặc vượt qua một người hay một thành tích nào đó. Theo sự giải thích này, thi đua được ví như niềm khao khát được ngang bằng hoặc vượt trội hơn so với cái khác, người khác và thành công của người khác cũng có thể truyền cảm hứng thi đua đến họ. Nghiên cứu quá trình hợp tác giữa con người và con người trong lao động sản xuất, C.Ănghen đã chỉ ra rằng thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người.
Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và nâng cao năng suất lao động. Thi đua là một hiện tượng tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển xã hội góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.Lênin cho rằng thi đua trong chủ nghĩa xã hội chính là một công cụ, một biện pháp để tăng cường kỷ luật lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển tính chủ động sáng tạo của nhân dân lao động và của chế độ dân chủ trong xã hội mới dựa trên quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết theo tinh thần tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn. Thi đua là một sáng kiến vĩ đại mà chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm. Phêđôxêép nhà khoa học Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây cho rằng "Thi đua là sự đọ sức trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của con 9 người trong xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ xã hội của con người trong quá trình sản xuất." Theo quan niệm của Bác Hồ: .thi đua không chỉ là hoạt động tích cực và sáng tạo trong công việc hàng ngày, trong lao động sản xuất vật chất, mà còn là hoạt động tư tưởng và tinh thần, là biểu hiện của lòng yêu nước, của tình cảm đối với Tổ quốc, quê hương, đất nước.
Nói một cách khác, thi đua không chỉ là lao động tạo nên sự gia tǎng về số lượng và chất lượng trong việc làm của con người để thêm nhiều của cải vật chất làm giàu cho đất nước, mà còn là tấm lòng, là trái tim và khối óc đối với đất nước, phấn đấu cho đất nước được tự do, độc lập, thống nhất, phát triển, tǎng tiến cả về kinh tế và vǎn hoá xã hội, mạnh về quốc phòng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. [10] Như vậy, có thể thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa đúng duy nhất về thi đua. Cụm từ “thi đua” khi gắn với vai trò, chức năng quản lý nhà nước tại khu vực công sẽ tạo nên sự thay đổi cơ bản về nghĩa, do sự khác biệt bởi chủ thể thực hiện và mục đích của hành động. Trong Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung năm 2013 thì Thi đua được hiểu là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Định nghĩa này đã chỉ ra các dấu hiệu nhận biết về thi đua. Đó là: Thứ nhất là, hoạt động có tổ chức, kế hoạch cụ thể, rõ ràng nhằm hướng đến mục tiêu, lý tưởng đề ra từ trước, thi đua không xuất hiện một cách tự phát mà phải có sự tập hợp, liên kết giữa nhiều các nhân trong cùng hoạt động và thực hiện theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo về cơ sở pháp lý, hướng đến mục tiêu và có biện pháp tổ chức hoạt động cụ thể. Thứ hai là, hoạt động được cá nhân, tập thể tự nguyện tham gia, không có sự lừa dối, cản trở hay cưỡng ép nào. Chủ thể tham gia thi đua phải nhận thức được vai trò, ý nghĩa của hoạt động này, tự nguyện đăng ký tham gia trên tinh 10 thần hăng hái, phấn khởi, chủ động, tự giác, không có bất kỳ áp lực từ bên ngoài tác động vào.
Thứ ba là, thi đua trong quản lý nhà nước nhằm hướng sự nỗ lực, sáng tạo trong lao động vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, không phải nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân nào. Điều này nói lên được mối liên hệ giữa hành động của nhà nước và sự nhận thức của các chủ thể khác trong xã hội về sự tồn tại của hoạt động thi đua, đồng thời gợi ra tiêu chu n đánh giá kết quả thi đua đạt được.2 Khái niệm khen thưởng Khen thưởng dưới chế độ phong kiến đã xuất hiện và tồn tại khá lâu dưới hình thức thưởng - phạt. Việc ghi nhận và trọng thưởng công trạng, nghiêm khắc xử phạt tội trạng luôn được các triều đại nhà nước Việt Nam quan tâm thực hiện. Nguyễn Trãi đã từng nói: "Nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời là Nhà nước vững mạnh.
Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là Nhà nước đang suy tàn. Nhà nước nào thưởng nhiều hơn phạt là nhà nước phồn vinh". Con người đã biết thực hiện việc khen và thưởng từ xa xưa nhưng xem xét việc khen thưởng như một đối tượng nghiên cứu khoa học thì còn rất mới mẻ. Vào những năm đầu thế kỷ XX, Douglas Mc Gregor đã nghiên cứu về các thái cực hành vi của con người, trong đó, học thuyết Y nhấn mạnh đến thái cực tích cực và bản năng luôn cần được quan tâm, khuyến khích của mỗi người.
Ông cho rằng bên cạnh tính bắt buộc, nhà quản lý cần quan tâm đến các biện pháp đề cao tinh thần tự giác, tự chủ của người lao động, khơi dậy óc sáng tạo, tính chăm chỉ trong mỗi con người, khuyến khích cá nhân, tập thể tự đánh giá thành tích của họ, điều khiển mục tiêu cá nhân phù hợp mục tiêu tổ chức.Skinner dựa trên nguyên lý vận hành có điều kiện và cơ chế học tập của con người đã đưa ra học thuyết thưởng - phạt. Cụ thể, thuyết này nói rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng lặp lại trong khi các hành vi bị phạt 11 sẽ giảm đi. Do đó, khi nhân viên, người lao động đạt được thành tích nổi bật, các nhà quản lý cần phải quan tâm đến việc ghi nhận, động viên kịp thời và có phần thưởng xứng đáng cho thành tích đó, khuyến khích các hành động tích cực được lặp lại. Dưới góc độ Luật học, khen thưởng được hiểu là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Khen thưởng là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá thành tích xuất sắc trong công việc của cá nhân, tổ chức dưới hình thức nhất định (tinh thần, vật chất.) phù hợp các yêu cầu của một bối cảnh, giai đoạn lịch sử cụ thể” [22,Tr 23] Tóm lại, có thể hiểu khen thưởng là việc ghi nhận bằng hình thức nhất định đối với những kết quả xuất sắc, nổi bật mà cá nhân, tập thể đạt được.2 Phân biệt thi đua và khen thưởng Nguyên tắc của thi đua là tự nguyện, tự giác, đoàn kết cùng phát triển, tác động vào ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể, nguyên tắc của khen thưởng chính là chính xác, công khai, công bằng, kịp thời, bình đẳng, khuyến khích bằng các lợi ích do vậy có thể xem thi đua là một dạng hoạt động ý thức của con người và khen thưởng chính là một dạng vật chất. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định vật chất có vai trò quyết định đến ý thức, đồng thời vạch ra sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn con người. Khen thưởng tạo ra động lực để thi đua và hoạt động thi đua trong thực tiễn sẽ tác động đến kết quả khen thưởng của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, không nên hiểu cục bộ rằng thi đua chỉ vì mục đích khen thưởng vì nếu hiểu theo cách đó sẽ làm hạn chế ý nghĩa hoạt động thi đua.
Ở đây, chúng ta nên hiểu rằng khen thưởng chính là sự công bằng của tổ chức trong việc quản lý con người, là sự khuyến khích, động viên tinh thần đối với những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực cho tổ chức, cho cộng đồng. [20] 12 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví “Thi đua là gieo hạt mà khen thưởng là gặt hái”. Gieo hạt muốn bội thu thì cần chú ý đến các yếu tố tác động như: đặc điểm thực vật của cây trồng, yêu cầu sinh thái của giống cây, chất lượng giống, kỷ thuật gieo trồng, thời vụ thu hoạch và các biện pháp phòng trừ sâu hại. Giống như muốn khen thưởng hiệu quả phải chú ý đặc điểm, tình hình của từng đơn vị phát động phong trào thi đua, thiết lập môi trường để duy trì và phát triển phong trào đó, quan tâm đến chất lượng, nội dung thi đua đảm bảo thiết thực, gắn với thực tiễn, tiêu chí thi đua phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, nghiên cứu các hình thức phát động thi đua mới mẻ, hấp dẫn, xác định thời điểm sơ kết, tổng kết phong trào thi đua để công tác khen thưởng kịp thời phát huy tác dụng động viên, khuyến khích; bên cạnh đó, cần có hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý các trường hợp sai phạm làm suy thoái ý chí thi đua trong quần chúng nhân dân.
Gieo giống tốt sẽ gặt được quả ngọt, nỗ lực, rèn luyện sẽ được khen thưởng xứng đáng. Tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua càng cao thì hình thức tuyên dương, ghi nhận sẽ càng lớn. Thi đua là động lực phát triển của xã hội, cổ vũ lòng say mê sáng tạo của quần chúng nhân dân, đông viên sự vươn lên của mỗi người mang lại lợi ích cho chính mình và cho xã hội. Khen thưởng là việc làm giúp nảy nở, nhân rộng cái tốt, điều hay, nâng đỡ những cái còn kém, còn yếu mang lại hiệu quả thiết thực trong thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn hiện nay, thi đua là một biện pháp hữu hiệu xây dựng con người mới và khen thưởng là biện pháp quản lý nhà nước, quản lý con người.