Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG 1. Nhận thức chung về quản lý cư trú công dân 1. Cư trú và quản lý cư trú công dân - Sơ lược về công tác đăng ký, quản lý cư trú của một số nước trên thế giới và của Việt Nam. Công tác đăng ký và quản lý cư trú có vị trí hết sức quan trọng và có tác dụng to lớn đối với hoạt động quản lý xã hội của nhà nước.
Thông qua Công tác quản lý cư trú cơ quan chức năng thu thập thông tin, tài liệu về công dân và hoạt động cư trú của công dân để phục vụ cho các yêu cầu quản lý xã hội, hoạch định được các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứng việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy quản lý cư trú được hình thành, phát triển từ rất sớm và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp, phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú.
Vì thế chúng ta có thể khẳng định: Trên thế giới vấn đề quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp quản lý cư trú khác nhau. 6 Ở Mỹ: Mỗi người từ khi sinh ra đã được cấp mã số công dân riêng. Mã số được dùng chung cho tất cả các loại giấy tờ liên quan đến nhân thân công dân như căn cước, hộ chiếu, bằng lái xe… mã số không bao giờ được dùng lại cho người thứ hai trong xã hội (kể cả khi người được cấp thẻ chết). Liên minh Châu Âu (EU): Sau khi các nước trong liên minh Châu Âu ký hiệp định về việc mở cửa biên giới và tự do đi lại giữa các nước thành viên, các nước Pháp, Đức, Hà Lan đã thống nhất sử dụng một loại hộ chiếu EU.
Loại thẻ công dân này chứa đựng thông tin đầy đủ về một con người gồm các nội dung như: hộ tịch, cư trú, căn cước. Ở Trung Quốc: Hiện tại vẫn thực hiện chế độ quản lý công dân theo hộ khẩu, trừ các đối tượng được quản lý theo diện tạm trú, tạm vắng thì ở Trung Quốc ngoài sổ hộ khẩu bình thường còn hình thành loại sổ hộ khẩu màu xanh dành cho dân nhập cư tạm trú và do đó các đối tượng có hộ khẩu xanh cũng không được hưởng đầy đủ các quyền lợi như dân có hộ khẩu thường. Một số nước khác có cách làm riêng tùy thuộc hoàn cảnh của từng quốc gia như quản lý công dân thông qua giấy phép lái xe hay thẻ thuế. Dữ liệu công dân được lưu giữ trong máy tính và cung cấp cho các cơ quan chức năng như cảnh sát, tư pháp, thuế, hải quan.
Ở Việt Nam: Thời kỳ cổ và trung đại, theo sách sử để lại thì các quy định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên đến thế kỷ thứ 7. Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, tóm lại trong giai đoạn cổ đại và Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó. Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 – 1945): Thực dân Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỉ ở thành phố, thị xã. Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản.
Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính, 7 bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa. Thời kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ, Ngụy chính sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ, sổ sách từng người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách quy mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính sách chống cộng; miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước nghiên cứu, tổ chức chỉ đạo quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội, củng cố chính quyền cách mạng.
Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày 17-8-1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam. Ngày 07-01-1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu. Ngày 10-5-1997 Chính Phủ ban hành Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ khẩu thay thế các quy định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 19-8-2005 Bộ Công an đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú (thường trú hoặc tạm trú), quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú theo đó là các nghị định thông tư hướng dẫn như nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú; thông tư số 06/TT-BCA (C11) ngày 1/7/2007 hướng 8 dẫn thực hiện một số điều của luật cư trú. Nghị định số 56/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 107/2007/NĐ-CP. Trong điều kiện, tình hình thực tế hiện nay, ngày 20/6/2013 Quốc hội đã ban hành Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú số 81/2006/QH11 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2014.
Ngày 18/4/ 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú; Bộ Công an ban hành Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP. Thông tư số 61/2014/TT-BCA ngày 20/11/2014 quy định về quy trình đăng ký cư trú và Thông tư số 36/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú. Ngoài ra còn một số văn bản có liên quan như: luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính. Như vậy, quản lý cư trú công dân có thể hiểu khái quát là quản lý việc thường trú, tạm trú, tạm vắng của công dân.
- Quản lý thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính. - Quản lý tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng do lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương trong thời gian nhất định. - Quản lý tạm vắng là quản lý đối với những người thường trú của địa phương theo quy định của pháp luật khi đi ra khỏi địa phương của mình phải khai báo tạm vắng. Đặc điểm của nhân khẩu tạm trú, tạm vắng Nhân khẩu từ nơi khác đến địa bàn hoạt động và quan hệ với nhân khẩu 9 thường trú có thể vì lý do thăm viếng, quan hệ làm ăn.
Hoặc đối tượng phạm pháp nơi khác đến tạm trú nhằm trốn tránh sự truy bắt, xử lý của Công an, chính quyền địa phương nơi họ đăng ký hộ khẩu thường trú. Do đó nhân khẩu tạm trú là những người cần chú ý trong quản lý để phục vụ cho công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Ngoài ra theo quy luật chung của các băng nhóm tội phạm chuyên nghiệp thường đi địa bàn khác hoạt động. Vì vậy, đối với những đối tượng này thường đăng ký hộ khẩu tại phường này có thể sang địa bàn phường khác hoạt động, từ quận này sang quận khác tạm trú hoạt động hoặc từ thành phố đi các tỉnh hoạt động.
Nhận thức về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 1. Khái niệm, đối tượng, vai trò của công tác quản lý tạm trú, tạm vắng Trong thực tiễn mặc dù công dân đang đăng ký hộ khẩu thường trú ở một nơi nhất định nhưng không phải lúc nào họ cũng sinh sống và làm việc tại nơi đã đăng ký thường trú. Với nhiều lý do khác nhau, con người thường phải đi lại và thậm chí phải sống ở một nơi khác với nơi mình đã đăng ký thường trú trong một thời gian nhất định, đó chính là thời gian cư trú tạm thời để giải quyết công việc theo yêu cầu cá nhân. Thời gian cư trú tạm thời được gọi là thời gian tạm trú.
Bên cạnh đó còn có một bộ phận không nhỏ những nhân khẩu sinh sống và làm ăn tại một thành phố, thị xã có tính lâu dài và họ coi nơi đang sinh sống là nơi cư ngụ thật sự của họ và những nhân khẩu này có ý định cư ngụ tại nơi ở hiện tại, không có ý định chuyển đi nơi khác; do quy định của pháp luật nên những nhân khẩu đang sinh sống tại nơi đang cư ngụ chưa được đăng ký hộ khẩu thường trú, những trường hợp này cũng được coi là tạm trú. Thời gian tạm trú ngắn hay dài là tùy theo yêu cầu của công việc cũng như cuộc sống đòi hỏi.