Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật 1. Quản lý là một khái niệm được xem xét ở hai góc độ - Dưới góc độ chính trị xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp.
Cơ chế quản lý phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, ngược lại, nó sẽ là một trở lực kìm hãm sự phát triển của xã hội. - Dưới góc độ hành động, quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.Mác, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra do tinh chất xã hội hoá lao động.Mác, tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về quản lý.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và các điều kiện nhất định. 10 Cũng có quan điểm cho rằng, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Từ cơ sở lý luận đó, chúng ta có thể khái quát, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước và là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân. Quản lý nhà nước gắn liền trực tiếp với hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy quyền lực nhà nước, gắn liền với việc sử dụng quyền lực nhà nước. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của tổng thể bộ máy nhà nước bao gồm toàn bộ các cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực pháp, hành pháp, tư pháp. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, nói đến quản lý nhà nước là nói đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổng thể bộ máy nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực và mang tính pháp quyền, là tổ chức công thực hiện quyền quản lý toàn bộ xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Luận văn này nghiên cứu quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, cụ thể, quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bằng các công cụ và phương thức khác nhau, tác động lên tổ chức và mọi cá nhân công dân trong xã hội nhằm đảm bảo sự duy trì 11 ổn định và phát triển xã hội. Quản lý nhà nước bằng pháp luật Hoạt động quản lý nhà nước bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với mục tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân công dân. Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực nhà nước, trong đó, nhà nước sử dụng sức mạnh cưỡng chế để buộc mọi tổ chức và cá nhân công dân trong phạm vi thẩm quyền phải tuân thủ những yêu cầu mà nhà nước đặt ra.
Trong hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý xã hội theo định hướng nhà nước đề ra. Tùy vào từng giai đoạn phát triển, tùy từng môi trường, điều kiện khác nhau mà nhà nước áp dụng các phương thức quản lý khác nhau cho phù hợp. Tuy nhiên, pháp luật là công cụ không thể thiếu trong một nhà nước pháp quyền. Một nhà nước chỉ thực sự hoạt động có hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, có hiệu lực trên thực tế.
Sự tuân thủ pháp luật sẽ là thước đo phát triển của nhà nước pháp quyền. Như vậy, có thể hiểu, quản lý nhà nước bằng pháp luật là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sử dụng pháp luật làm công cụ để tác động đến mọi tổ chức, cá nhân công dân nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về môi trường 1. Khái niệm môi trường Môi trường là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng.
Do vậy khi bàn về môi trường, có rất nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau. Trong số đó, cách hiểu được đa số các nhà nghiên cứu quan tâm dựa trên hai khía cạnh sau: Thứ nhất, nếu tiếp cận môi trường trên cơ sở chức năng của nó thì có cách định nghĩa như sau: 12 Trong quyển: "Môi trường và tài nguyên Việt Nam" – Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, H., 1984, đã đưa ra định nghĩa: "Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội". Thứ hai, nếu tiếp cận môi trường trên cơ sở các cấu thành của nó thì cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau như sau: Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là "Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người". Cũng có những tác giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn, chẳng hạn như R.Sharme (1988) đưa ra một định nghĩa: "Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người".
Có thể thấy tất cả các quan niệm nêu trên đều đúng, tuy nhiên có quan niệm môi trường trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 là tổng quát, dễ hiểu và được thừa nhận nhiều hơn cả. Trong đó, theo Khoản 1 Ðiều 3, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” Từ khái niệm trên, có thể thấy: Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường theo nghĩa hẹp, khái niệm trên lấy con người là trung tâm, không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và 13 xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Đặc điểm của môi trường Môi trường là hệ sinh thái hở hoàn chỉnh bao gồm ba thành phần: Thành phần sinh học; Thành phần phi sinh học; Thành phần điều kiện.
Được mô phỏng trong sơ đồ 1. Thành phần phi sinh học Sơ đồ 1. Đặc điểm của môi trường Môi trường gồm những nhân tố có thể chia thành 3 nhóm cơ bản: môi trường sinh vật gồm các thành phần sinh học của môi trường như động, thực vật, vi khuẩn, vi sinh vật… và những thành phần phi sinh học của môi trường tự nhiên, bao gồm: nước, đất, không khí, nhiệt độ… và những mối quan hệ 14 trong thành phần điều kiện giữa con người với môi trường và với các thành phần sinh học với phi sinh học. Các điều kiện của môi trường trong thành phần phi sinh học của hệ sinh thái như điều kiện vật lý (ánh sáng, nhiệt độ.) hay các điều kiện hóa học như thành phần các đơn chất, hợp chất của một số loại môi trường, sinh vật học tạo nên đặc điểm đặc trưng của môi trường.
Phân loại môi trường Hiện nay, có nhiều cách khác nhau để phân loại môi trường. Với mỗi cách phân loại, môi trường lại được phân thành những dạng khác nhau. Cụ thể như sau: - Phân loại theo nguồn hình thành: Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người tác động ít nhiều đến con người. Môi trường đất, nước, không khí, tài nguyên khoáng sản.
Môi trường xã hội: là tổng hoà các mối quan hệ giữa người với người tạo nên thuận lợi hoặc cản trở cho sự tồn tại và phát triển của con người, bai gồm hệ thống thông tin do con người tạo ra như thể chế, hệ thống pháp luật, văn bản dưới luật, văn bản pháp lý. Môi trường nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo ra và chịu chi phối của con người nhằm phục vụ cho cuốc sống của con người như công sở, công viên, khu sinh thái, phường tiện giao thông. - Phân loại môi trường theo thành phần tự nhiên gồm có: môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí. - Phân loại môi trường theo các yếu tố của sự sống, gồm có: môi trường vật lý, môi trường sinh học, môi trường hoá học.
- Phân loại theo khu vực, gồm có: môi trường ven biển, môi trường đồng bằng, môi trường miền núi. Sự cần thiết quản lý nhà nước về môi trường Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và mọi sự sống trên trái đất. Từ vai trò và chức năng của môi trường dẫn tới cần có sự quản lý nhà nước về môi trường, cụ thể: Thứ nhất, môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.