CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN 1. Một số vấn đề chung về khoáng sản 1. Khái niệm khoáng sản Khoáng sản được hiểu một cách thông dụng nhất là những tích tụ tự nhiên các khoáng vật và đá có ích được con người khai thác, sử dụng. Những nơi tập trung khoáng sản gọi là mỏ khoáng sản.
Theo quan điểm địa chất thì: “Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân”[15]. Theo giải thích từ ngữ, tại Điều 2 Luật khoáng sản (Luật số 60/2010/QH12) thì: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, Luật Khoáng sản đã quy định rất rõ ràng và rộng rãi bao trùm lên các khái niệm khác về khoáng sản. Đặc trưng cơ bản của khoáng sản đó là loại tài nguyên không tái tạo được và có số lượng hạn chế do đó cần có chiến lược quản lý, bảo vệ, khai thác để sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước.
Đặc điểm của nguồn tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam Theo kết quả điều tra địa chất và thăm dò khoáng sản đến nay trên lãnh thổ Việt Nam đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm khoáng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau. Theo trữ lượng và tài nguyên đã được điều tra, thăm dò, khoáng sản ở nước ta chia thành 4 nhóm sau: 10 - Nhóm khoáng sản năng lượng, gồm: + Về dầu khí: Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi. + Than đá: Than biến chất thấp ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1.700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn.
Than biến chất cao phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. + Urani: Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218. + Địa nhiệt: Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300 C trở lên.
Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. - Nhóm khoáng sản kim loại: Việt Nam có nhiều loại khoáng sản kim loại có tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như: + Bauxit: Có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit. Diaspor phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng đạt gần 200 triệu tấn. Gibsit phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn.
+ Đất hiếm: Ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn). + Quặng titan (Ilmenit): Quặng titan gốc ở Cây Châm, Phú Lương, Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn. Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn. Quặng titan 11 sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn.
- Nhóm khoáng chất công nghiệp: Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá cao và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp: + Apatit: Phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đến vùng Văn Bàn có tài nguyên là 2,5 tỷ tấn. + Barit: Phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam. Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn). + Graphit: Có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lượng đạt gần 20 triệu tấn.
- Nhóm vật liệu xây dựng: Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng như: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý ruby, saphir, peridot,. nhưng trữ lượng không lớn. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể và phân bố không đồng đều ở các địa phương.
Đặc điểm thị trường trong lĩnh vực khoáng sản ở Việt Nam Khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước, được điều tra, thăm dò, đánh giá đúng trữ lượng và có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng chung và bền vững của nền kinh tế. Là đại diện chủ sở hữu về khoáng sản, Nhà nước thể hiện đầy đủ quyền của chủ sở hữu, nhất là quyền định đoạt đối với khoáng sản khi giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác. Vì vậy, đặc điểm thị trường trong lĩnh vực khoáng sản là sự phát triển thị trường khoáng sản theo định hướng, điều 12 hành và chỉ đạo của Nhà nước nhằm phát triển cân đối, hài hòa và bền vững. Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về khoáng sản 1.
Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về khoáng sản - Khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. - Khái niệm quản lý nhà nước về khoáng sản: Quản lý nhà nước về khoáng sản là hoạt động quản lý nhà nước thống nhất của Chính phủ về khoáng sản, các bộ, ban ngành, từ trung ương tới địa phương được quy định chức năng, quyền hạn và thi hành theo quy định của Luật khoáng sản (Luật số: 60/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010). Sự cần thiết của quản lý nhà nước về khoáng sản Việt Nam là một đất nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, quy mô và trữ lượng tài nguyên không lớn, phân bố không đồng đều ở các địa phương, vì vậy hoạt động quy hoạch, điều tra, đánh giá, quản lý khoáng sản cần được thường xuyên cập nhật thông tin. Công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản ở nước ta còn ở mức thấp, chưa khai thác triệt để quặng nghèo và thành phần có ích đi kèm trong quặng; khoáng sản chưa được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả.
Các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản hầu hết có quy mô nhỏ, trung bình nên thiếu vốn, khó khăn trong việc đầu tư công nghệ và thiết bị tiên tiến. Trong khi đó, hoạt động khoáng sản đòi hỏi vốn đầu tư lớn, có nhiều rủi ro nên gặp không ít khó khăn cho việc thăm dò để tìm ra mỏ mới. Một số loại khoáng sản như thiếc sa khoáng, chì - kẽm, mangan do đã khai thác lâu năm, trữ lượng đã và đang dần cạn kiệt, hoặc còn lại không 13 nhiều, cần phải tiếp tục đầu tư thăm dò mở rộng trên mặt và bổ sung phần trữ lượng dưới sâu nhằm gia tăng trữ lượng. Đầu tư chế biến sâu là chủ trương đúng đắn của Nhà nước.
Tuy nhiên, do quy định của một số địa phương chưa phù hợp, yêu cầu doanh nghiệp khi xin giấy phép khai thác phải gắn với dự án chế biến sâu loại khoáng sản đó, nhất là đối với khoáng sản kim loại. Điều này đã và đang xảy ra thực trạng là, nhiều doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến sâu nhưng dựa trên cơ sở giấy phép khai thác quy mô nhỏ (ngoài quy hoạch Trung ương), không có nguồn nguyên liệu bảo đảm cho dự án chế biến sâu hoạt động ổn định, lâu dài, dẫn tới tình trạng thiếu nguyên liệu, tăng mức độ rủi ro đối với các dự án chế biến sâu; dễ gây ra tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, cạnh tranh mua bán không lành mạnh vẫn còn xảy ra ở một số địa phương, nhất là đối với khoáng sản quý hiếm, khoáng sản kim loại. Hậu quả của tình trạng này là gây mất an toàn lao động, trật tự trị an và ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh.
Hoạt động khai thác nhỏ lẻ, thủ công (cá thể, hộ gia đình) đối với khai thác cát, sỏi lòng sông, khai thác sét làm gạch ngói thủ công v. tại nhiều địa phương đến nay vẫn chưa được cấp phép theo quy định để quản lý. Do phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hạn chế về năng lực vốn đầu tư nên vẫn còn tình trạng chia các khu mỏ có quy mô lớn thành các khu vực nhỏ để cấp cho nhiều doanh nghiệp. Công tác theo dõi thông tin tổn thất, làm nghèo khoáng sản trong quá trình khai thác; biến động chất lượng, trữ lượng mỏ khoáng sản được khai thác, công tác lập bản đồ hiện trạng khai thác mỏ định kỳ theo quy định, cũng như quy trình, quy phạm hiện hành chưa được các doanh nghiệp khai thác quan tâm và thực hiện chưa tốt.
Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý kỹ thuật, nhất là công tác thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản.