Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đất đai Luật đất đai 2013 đã định nghĩa và khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người.
Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết (Quốc hội, 2013). Khái niệm quản lý Nhà nước Thuật ngữ “quản lý” được sử dụng nhiều trong sinh hoạt cuộc sống và nghiên cứu. Thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo lĩnh vực và cách tiếp cận.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, do đó mỗi ngành quan niệm về quản lý theo góc độ riêng của mình cho phù hợp. Nhiều lĩnh vực cho rằng quản lý là cai trị hay quản lý là hoạt động điều hành, điều khiển, chỉ huy… Tuy nhiên, tựu chung lại, tất cả các quan niệm đó điều thống nhất một vấn đề đó là quản lý là nhằm tác động tới một sự vật, một hiện tượng nào đó để nó phải tuân theo một trật tự nhất định đã được định trước. Vì vậy quan niệm về quản lý được chấp nhận rộng rãi nhất là Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. 6 Theo góc độ hành động thì quản lý được hiểu đây là một hoạt động điều khiển và đều do con người thực hiện đối với 3 đối tượng chính sau: - Con người điều khiển các vật hữu sinh (không phải là con người), bắt các vật hữu sinh này thực hiện theo ý đồ của con người, như quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường, … - Con người điều khiển các vật vô sinh (những vật không sống), bắt chúng thực hiện theo ý đồ của người điều khiển.
Hay còn được gọi là quản lý kỹ thuật, như là điều hành sự vận hành của máy móc, thiết bị theo ý đồ của con người,… - Con người điều khiển con người, loại hình này còn được gọi là quản lý xã hội. Đây là một loại hình quản lý đặc biệt và phức tạp nhất, nó được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Trong 3 đối tượng quản lý trên thì quản lý xã hội được nghiên cứu và quan tâm nhiều hơn cả. Vì vậy, khi nói đến quản lý người ta thường chỉ về hoạt động quản lý xã hội và được hiểu là: là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra, đúng ý chí của nhà quản lý.
Quản lý Nhà nước là một trong những lĩnh vực lớn của quản lý xã hội, nó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội thì Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Cụ thể: - Quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm: công dân và những người không phải là công dân nhưng sinh sống trên lãnh thổ quốc gia. - Quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.
Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên cơ sở pháp luật quy định. 7 - Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định một cách nghiêm minh. Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau.
Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất. Cụ thể hơn, đây là quá trình nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Quản lý nhà nước về đất đai là toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta căn cứ vào cơ sở pháp luật để điều chỉnh các nội dung quản lý đất đai từ Trung ương đến địa phương trong việc phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ đất đai; điều chỉnh các hành vi của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất hướng tới mục đích bảo vệ quỹ đất đai trên toàn quốc, giữ gìn, tôn tạo, quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả theo định hướng của nhà nước (Trần Thanh Hùng, 2014). Quản lý nhà nước đối với đất đai là sự tác động liên tục, có định hướng mục tiêu của bộ máy nhà nước lên đối tượng sử dụng đất, nhằm thực hiện mục tiêu chung đề ra trong những điều kiện và môi trường kinh tế nhất định, trên nguyên tắc cao nhất (nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trực tiếp tham gia vận hành thị trường), để thực hiện quyền về kinh tế của sở hữu và các chức năng khác của nhà nước.
Khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đồng thời có biện pháp báo vệ đất và môi trường sống theo hướng sử dụng bền vững quĩ đất. Quản lý Nhà nước về đất đai 1. Vai trò của quản lý Nhà nước về đất đai Vai trò thứ nhất, cơ quan chính quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước bằng chính sách và pháp luật thống nhất để đảm bảo kỷ cương xã hội và lợi ích cơ bản lâu dài. Đó là các việc: quy hoạch và kế hoạch, thu thuế hoặc tiền sử dụng đất, giao và cho thuê đất, thu hồi hoặc tịch thu (do giải tỏa cho mục đích chung, do vi phạm pháp luật), cấm sử dụng sai mục đích, cấm xây dựng (một số loại công trình trên một số loại đất), đăng ký và chứng nhận quyền sử dụng đất, xử lý các tranh chấp về đất đai, quản lý thị trường đất đai… Đó chính là quyền định đoạt (cao nhất) và hưởng lợi của Nhà nước.
Cũng cần nói thêm rằng không phải mọi trường hợp tranh chấp đều là quan hệ dân sự; khi có hành vi chiếm đoạt và xử lý sai pháp luật phải coi là quan hệ hình sự. Vai trò thứ hai, các cơ quan và đơn vị thuộc Nhà nước cũng là “người” sử đụng đất, là đối tượng điều chỉnh của Luật (về quyền và nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân sử dụng đất), bình đẳng với các đối tượng khác trước pháp luật. Mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai nhằm thực hiện các mục đích sau: - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất; - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường. Yêu cầu của công tác quản lý đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính.
Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai a. Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
Vấn đề này được quy định tại Luật Đất đai 2013: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai, Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai (Trần Thanh Hùng, 2014). Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng. Theo Luật dân sự 2015 thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng.
Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thông qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng. từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai.