CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC 1. Khái quát chung về dân tộc 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm dân tộc Thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, giải quyết tối ưu các vấn đề xã hội hướng đến nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đối với dân tộc thiểu số đã trở thành một vấn đề trọng tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới, vì vậy lĩnh vực dân tộc được các giới khoa học về dân tộc học, nhân học, xã hội học, tâm lý học, chính trị học,… các nhà quản lý, hoạch định chính sách tiếp cận, nghiên cứu.
Tuy nhiên, tùy vào hướng tiếp cận, cũng như mục đích nghiên cứu để các học giả đưa ra các quan điểm khác nhau về dân tộc. Hiên nay, khi tiếp cận khái niệm dân tộc, phần lớn các học giả đều thống nhất có hai hướng tiếp cận: Thứ nhất, khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng, gắn với phạm vi bao quát trong mối tương quan với các lĩnh vực cấu thành nên xã hội như: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một quốc gia. Tiêu biểu như quan điểm của tác giả Trần Hữu Tiến trong cuốn “Dân tộc trong lịch sử và trong thời đại ngày nay” của nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự Thật, được xuất bản năm 2022, tác giả đã quan điểm về dân tộc như sau: “Dân tộc được hiểu là một cộng đồng của người cùng sinh sống trong một quốc gia như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ. Tiếp cận theo hướng này thì dân tộc được hiểu là là một cộng đồng người xuất hiện trong lịch sử, một cộng đồng ổn định về đời sống kinh tế, có tiếng nói chung, 19 có lãnh thổ chung và có nền văn hóa chung”[40 trang 119 ].
Cùng hướng tiếp cận này, còn có khái niệm của tác giả Nguyễn Hữu Dật, theo ông khái niệm dân tộc được hiểu là “Dân tộc - Quốc gia là cộng đồng người mà trong quá trình phát triển đạt đến sự hình thành quốc gia, sự ra đời của nhà nước. Tất cả cộng đồng người đạt đến trình độ nhà nước cần được gọi là dân tộc; không phân biệt nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, chủ nghĩa xã hội, đặc trưng của dân tộc là cộng đồng nhà nước” [40 trang 119, 27 trang 118] Bên cạnh đó, khái niệm về dân tộc được tiếp cận theo nghĩa rộng được luận chứng như sau: “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân. Thứ hai, Khái niệm về Dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp, với hướng tiếp cận này dân tộc được hiểu gắn liền với cộng đồng mang tính tộc người, được luận giải với thuật ngữ tiếng Latin, theo đó khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp được hiểu là “đồng nghĩa với cộng đồng đồng mang tính tộc người, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Ba na.Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc dân tộc khác nhau, được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người”; Cùng hướng tiếp cận này, Ủy ban dân tộc quan điểm khái niệm về dân tộc theo nghĩa hẹp như sau: “Dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể.
Dân tộc - tộc người là một cộng đồng có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt), được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người” [22 trang 118]. Trên cơ sở các khái niệm về dân tộc theo nghĩa rộng và hẹp, luận văn căn cứ vào hướng tiếp cận của bình diện khoa học quản lý công và mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn quan điểm dân tộc là toàn thể các cộng đồng người có các mối quan hệ xã hội, có sự tương quan với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, lịch sử, văn 20 hóa, xã hội,… cùng đồng hành, phát triển dưới sự điểu chỉnh thống nhất của một nhà nước. Đề tài luận văn tiếp cận quản lý nhà nước về dân tộc, khái niệm dân tộc của đề tài được hàm ý là dân tộc thiểu số, vì vậy đề tài luận văn không đề xuất hướng tiếp cận khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp. Khái niệm dân tộc thiểu số Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để quan niệm về dân tộc thiểu số, trên thực tế người dân thường dùng các thuật ngữ như: “đồng bào các dân tộc thiểu số”, “các cộng đồng dân tộc thiểu số”, “người dân tộc thiểu số” “người thượng”, “người bản địa,… các thuật ngữ này một bộ phận người dân thường dùng trong đời sống hàng ngày.
Tuy nhiên, những thuật ngữ này dưới quan niệm của các nhà làm luật, nhà quản lý và các nhà khoa học về dân tộc học, hay nhân học chưa đủ để khu biệt các nội hàm của yếu tố chủng tộc, sắc tộc, lịch sử, nguồn gốc, văn hóa và bao hàm cả hàm ý của yếu tố chính trị. Xét dưới phương diện khoa học, các nhà nhân chủng học cho rằng dùng khái niệm thiểu số để dùng chỉ những dân tộc ít người hơn so với dân tộc đa số. Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người” [5 trang 116]. Tiếp cận dưới gốc độ luật học, thì Nghị định số Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số, tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định quy địn như sau: “Dân tộc thiểu số “là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.
Bên cạnh đó cũng luận giải dân tộc đa số là “dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước” [63 trang 121]. Căn cứ vào các quan điểm khác nhau về dân tộc thiểu số, căn cứ vào cơ cấu các dân tộc Việt Nam, hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam với 54 dân tộc, trong đó dân 21 độc Kinh chiếm đa số, và 53 các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ ít hơn, luận văn đưa ra quan niệm về dân tộc thiểu số ở Việt Nam làm công cụ nghiên cứu như sau: Dân tộc thiểu số ở Việt Nam là bao gồm toàn bộ các cộng đồng người có số dân ít hơn dân tộc đa số, có sự khác nhau về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… có sự bình đẳng về về các mối quan hệ xã hội và sự tương quan về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… và được quản lý bởi nhà nước Việt Nam. Đặc điểm của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Trong hoạt động quản lý nhà nước thì bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội sẽ quyết định công cụ và phương thức quản lý, vì vậy việc tìm hiểu nghiên cứu các đặc điểm về dân tộc sẽ là tiền đề để làm căn cứ về lý luận làm cơ sở định hướng cho quá thực hiện các nội dung nghiên cứu. Thứ nhất, Các dân tộc thiểu số nước ta có truyền thống đoàn kết, cùng chung vận mệnh lịch sử.
Đoàn kết là truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam, đoàn kết xuất phát từ trong quá trình dựng nước và giữ nước, đoàn kết để chế ngự thiên nhiên, chống lũ lụt. Nhờ có tinh thần đoàn kết của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam mà chúng ta đã đánh thắng mọi thế thực xâm lăng, xây dựng nên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập và thống nhất như ngày nay. Ngày nay, trong thời kỳ hòa bình các dân tộc thiểu số luôn đồng hành để thực hiện các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, cống hiến và cùng đồng hành xây dựng phát triển đất nước ngày càng phát triển phồn thịnh. Thứ hai, Các DTTS ở Việt Nam sinh sống chủ yếu ở miền núi, vùng cao trên địa bàn rộng lớn có vị trí chiến lược về kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh.
Nước ta có 1/3 diện tích là Đồng bằng còn lại là đồi núi. Dân tộc Kinh đa số sống ở khu vực đồng bằng, bên cạnh đó một số dân tộc như dân tộc Hoa, Chăm, Kho7me cũng chủ yếu sống ở vùng Đồng bằng, còn lại đa số các DTTS ở Việt Nam chủ yếu sinh sống ở những vùng trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới có vị trí chiến lược về quốc phòng – an ninh. Thứ ba, Các dân tộc ở nước ta cư trú xen kẽ lẫn nhau, không có vùng lãnh 22 thổ riêng. Tất cả người Việt Nam đều có quyền tự do về việc cư trú hợp pháp nên bất cứ người dân tộc nào cũng có quyền được sinh sống và làm việc ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.
Sau các phong trào “đi kinh tế mới” người kinh di cư lên những khu vực miền núi, sự kiện di dân năm 1954 và các cuộc di dân sau năm 1975 từ các tỉnh phía Bắc vào phía Nam góp phần tạo nên đặc điểm về cư trú đan xen lẫn nhau giữa các dân tộc. Thứ tư, Số lượng dân cư các dân tộc ở nước ta không đồng đều. Việt Nam là nước có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, dân tộc Kinh có số dân đông nhất hơn 82 triệu dân, 53 dân tộc còn lại số lượng khoảng hơn 14 triệu dân, trong đó các dân tộc như Tày, Thái, Mường…. là những dân tộc có hơn 1 triệu dân còn một số dân tộc hiện nay số lượng dân cư thấp dưới 1000 người như Ơ Đu, Rơ măm.
Thứ năm, Các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều nhau.