Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - THUC TIEN VAN DE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC CAP TINH VE BAO CHÍ - TRUYEN THONG HIỆN NAY 1. Những khái niệm cơ bản được sw dung trong luận văn 1. Khái niệm về quản lý nhà nước Cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nỗ cùng với quá trình toàn cầu hoá đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội (năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sang tạo, thu thập, xử lý và trao đổi thông tin). Nhiều nước phát triển đã nắm bắt được cơ hội ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy thế mạnh, tạo ra những biến đổi vượt bậc đưa quốc gia vững mạnh tiễn nhanh về phía trước.
Không nằm ngoài xu thế, Việt Nam đã xây dựng và từng bước thực hiện chiến lược phát triển công nghệ thông tin, báo chí - truyền thông. Thông qua việc xác định báo chí - truyền thông là mũi nhọn nhằm quảng bá và thúc day phát triển nền kinh tế, cùng với đó công tác quan ly nhà nước trên lĩnh vực này đặt ra nhiều van dé cần giải quyết. Dé hiểu sâu sắc hơn, chúng ta cần nắm vững những lý luận liên quan tới quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông, nhất là trên phạm vi cấp tỉnh. Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER), Một số vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước, Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2017, đưa ra định nghĩa: “Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tô chức và điều chỉnh băng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp tiến hành dé thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân”.
Vì thế, ta có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động chỉ huy, điều hành, thực thi quyên lực nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật và đảm bảo thích ứng với diéu kiện khách quan do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) xác lập và tiễn hành theo một trật tự 6n định để tổ chức và điều chỉnh các quả trình xã hội, hành vi hoạt động của công dân theo những mục tiêu ma tang lớp cam quyên theo đuổi. Khái niệm về báo chí Có thê thấy rõ, thuật ngữ báo chí tiếng Việt được hình thành trên cơ sở của 3 nguyên tắc sau: (i) Xây dựng thuật ngữ báo chí dựa trên cơ sở tiếng Việt: Thuật ngữ hóa từ thông thường. (ii) Xây dựng thuật ngữ báo chí dựa vào tiếng nước ngoài: Phiên âm. (iii) Xây dựng thuật ngữ báo chí vừa dựa trên cơ sở tiếng Việt vừa dựa vào tiếng nước ngoài: Sao phỏng và Ghép lai.
Tại Khoản 1, Điều 3, Luật Báo chí số 103/2016/QH13 (được Quốc hội thông qua ngày 05/4/2016) chỉ rõ: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thé hiện băng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”. Nhìn chung, báo chi là các loại hình truyền thông đại chúng (gồm báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử) trong lĩnh vực hoạt động thông tin, phản ánh bộ mặt của toàn bộ đời sống chính trị và tỉnh thần của xã hội; được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có tính định kỳ, phát hành rộng rãi, chuyển tải thông tin mới một cách nhanh nhất đến công chúng, có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội. Khái niệm về truyền thông Truyền thông xuất hiện và phát triển cùng quá trình của xã hội loài người và trở thành hiện tượng xã hội pho biến; giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau của đời song xã hội. Truyền thông luôn giàu sức mạnh trong việc cung cap thông tin đời sống, pháp luật, mang toàn bộ tri thức trên thế giới cho toàn dân.
Phương tiện truyền thông giúp đông dao độc giả có thé giải trí, học tập cách sống điều tốt đẹp phạm vi toàn cầu. Truyền thông được nhiều tác giả đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, có thé kế tới Chris Fill (ở lĩnh vực marketing) với quan niệm: “Truyền thông tiếp thị là một quá trình quản lý thông qua đó một tổ chức dé thu hút khán giả, khách hàng khác nhau cho tổ chức. Bằng cách hiểu môi trường truyền thông của một khán giả, tô chức đó sẽ tìm cách phát triển và thé hiện thông điệp cho các nhóm đối tượng xác định của họ, trước khi đánh giá và hành động dựa trên các phản ứng. Bằng cách truyền đạt thông điệp có giá trị đáng kể, họ khuyến khích khán gia để cung cấp phản ứng thái độ và hành vi” [20, tr 41].
PGS, TS Nguyễn Văn Dững nhận định răng: “Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đồi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng kinh nghiệm giữa hai bên hoặc nhiều người nhằm góp phan nâng cao thay đổi nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững” [7, tr 14]. Có thé nói, uyên thông là quá trình trao đổi, chia sẻ, tương tác thông tin giữa hai hoặc nhiều người với nhau về các vấn đề trong mọi lĩnh vực; tăng cường sự hiểu biết lần nhau, thay đổi nhận thức thông qua giáo dục, thuyết phục, tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân trên nên tảng các dịch vụ trực tiếp và trực tuyến tham gia giải quyết các van dé kinh tế, văn hóa, xã hội đặt ra dựa vào các thông tin có giá trị của những người tham gia. Khái niệm quản lý nhà nước về báo chi - truyền thông Quan lý nhà nước được coi là một dạng quan lý xã hội đặc thù, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sông xã hội, do các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước cầm quyền thực hiện với mục đích đáp ứng nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự 6n định và phát triển của xã hội. Trong đó, quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông chịu sự quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phố biến, vừa mang tính đặc thù quản lý ngành nghề.
Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013, quy định rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Thực tế, quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, và trong khuôn khổ của pháp luật; phải bắt kịp trình độ phát triển của phương tiện kỹ thuật, công nghệ truyền thông hiện đại; đồng thời, quản lý phải chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và đội ngũ cán bộ quản lý phải hiểu và sử dụng được công nghệ báo chí - truyền thông hiện đại. Do đó, quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phải phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của công chúng nhưng không dẫn đến khuynh hướng thương mại hóa tràn lan và sự lũng đoạn của dong tiền.
Tại Điều 7, Luật Báo chí số 103/2016/QH13 (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017), quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước về báo chí: “1. Chính phủ thống nhất quan lý nhà nước về báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương”. Tóm lại, có thé hiểu: Quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông là hoạt động chỉ huy, diéu hành, thực thi quyên lực nhà nước trên cơ sở quy định của pháp luật đối với hoạt động của các loại hình báo chí - truyền thông thông qua giáo duc, thuyết phục công chúng trên nên tảng các dịch vụ trực tiếp và trực tuyến tham gia giải quyết các vấn dé kinh tế, văn hóa, xã hội đặt ra; đồng thời, thực hiện chức năng và nhiệm vụ theo cơ chế hành chính được Nhà nước giao nhằm đảm bảo mục tiêu của tang lớp cam quyền theo đuổi. Cơ sở thực tiễn 1. Cơ sở chính trị Trên cơ sở những văn kiện của Đảng ta, có thê thấy những quan điểm sau đây cần được nhận thức, quán triệt và thực hiện trong quá trình quản lý nhà nước về báo chí cũng như họat động báo chí.
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” đã khang định: Công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận. Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tô chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí. Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc định hướng chính trị và thông qua nhà nước, thông qua công tác tổ chức - cán bộ, thông qua giám sát, kiểm tra hoạt động thường xuyên trong thực tiễn. Quản lý nhà nước về báo chí còn bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.” Nghị quyết Hội nghị lần thứ Mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (tháng 1/2015) đã nêu rõ quan điểm định hướng cho sự phát triển của báo chí Việt Nam trong giai đoạn tới.