CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG PHƯƠNG TIỆN Ô TÔ 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng phương tiện ô tô 1. Vận tải hành khách 1. Khái niệm Theo Trần Thị Lan Hương (2011), “Nhập môn tổ chức vận tải ô tô” thì Vận tải ô tô là hình thức vận tải phổ biến nhất, được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân ở tất cả các quốc gia.
Vận tải ô tô có một số ưu điểm cơ bản là tính cơ động cao, tốc độ vận chuyển nhanh, giá thành vận chuyển trên khoảng cách ngắn thấp hơn so với vận chuyển đường sắt và vận tải đường thủy. Nhờ tính cơ động cao nên ô tô vận chuyển trực tiếp từ kho người gửi đến kho người nhận, không phải qua các hình thức vận tải khác. Ô tô có thể hoạt động bất kỳ lúc nào trên các loại đường, thậm chí ở cả những nơi chưa có đường sá. Tốc độ vận chuyển hàng của ô tô nhanh hơn đường sắt cả về khoảng cách ngắn và khoảng cách dài.
Vì vậy, việc vận chuyển hàng giữa các thành phố bằng ô tô đang phát triển mạnh. Việc sử dụng rộng rãi các đoàn xe đầu kéo có trọng tải lớn, cải thiện đường sá và cải tiến tổ chức quản lý có tác dụng thúc đẩy vận tải ô tô giữa các thành phố phát triển nhanh [10]. Do có những ưu điểm nên ngành vận tải hành khách bằng ô tô cũng phát triển nhanh cả về vận tải nội tỉnh cũng như vận tải liên tỉnh. “Vận tải hành khách (VTHK) bằng xe ô tô được hiểu là một loại hình vận tải chuyên chở con người từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng xe ô tô”.
[10] Xã hội càng phát triển thì nhu cầu đi lại thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Thay đổi về số lượng là sự gia tăng về nhu cầu đi lại của người dân. Thay đổi về chất lượng là yêu cầu đảm bảo về mặt an toàn, tiện nghi và sự thỏa mái, nhanh chóng. Tính xã hội của VTHK rất cao vì sự thay đổi giá 7 cước, thời gian vận tải sẽ tác động trực tiếp đến người tiêu dùng (hành khách).
Chi phí chuyến đi của hành khách thể hiện ở hai mặt: thời gian chuyến đi và giá vé phải trả.[19] Hành khách lưu thông bằng phương tiện ô tô bao gồm: + Hành khách đi lại thường xuyên: Số hành khách đi lại thường xuyên có tính chất cố định, có quy luật, tương đối ổn định như học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, công nhân lao động, người đi buôn bán thường xuyên… ở các nước phát triển, số người có nhu cầu đi lại thường xuyên chiếm 40% so với tổng lượng hành khách vận chuyển. Đối với những hành khách này, phải sử dụng các loại phương tiện vận tải ô tô công cộng để đáp ứng nhu cầu đi lại. Hành khách đi lại không thường xuyên: Hành khách đi lại không thường xuyên là loại hành khách đi lại xuất phát từ nhu cầu nhất thời (theo thời vụ, theo yếu tố tổ chức xã hội…) như lễ hội hàng năm, hoạt động văn hóa, tham quan, nghỉ mát. Đối với những hành khách này, cần căn cứ vào tình hình thực tế để tổ chức vận tải cho phù hợp.
Phân loại phương thức vận tải hành khách a. Các phương thức vận tải: [10] - Theo phương thức vận tải bao gồm các loại hình sau: + Vận tải đường bộ; + Vận tải đường sắt; + Vận tải đường thủy; + Vận tải hàng không; + Vận tải đô thị: Bao gồm tàu điện ngầm (metro), tàu điện bánh sắt (tramway), xe điện bánh hơi (trolleybus), ô tô buýt (bus), tàu điện một ray (monoray), đường sắt nhẹ (LRT), taxi,… + Vận tải đặc biệt: Dấu hiệu phân biệt vận tải đặc biệt như phương tiện đặc biệt, đối tượng đặc biệt, cự ly đặc biệt,…Ví dụ như vận tải bằng băng chuyền, cáp treo,… 8 - Theo phương thức quản lý bao gồm các loại hình sau: + Vận tải cá nhân: Là hình thức tự phục vụ, tự thỏa mãn nhu cầu đi lại của cá nhân và người thân nhưng không thu tiền. + Vận tải hành khách công cộng: Là hình thức vận tải phục vụ mọi đối tượng hành khách đi lại và có thu tiền, tức là tìm kiếm lợi nhuận qua việc phục vụ các đối tượng đó. VTHK công cộng gồm hai loại: Loại có sức chở lớn như tầu điện ngầm, xe bus,… Loại có sức chứa nhỏ như xe máy ôm, xe taxi,… + Vận tải hành khách công vụ: Phương tiện đưa đón công nhân, cán bộ, học sinh,… - Theo địa giới hành chính có thể phân loại như sau: + Vận tải trong thành phố; + Vận tải liên tỉnh; + Vận tải quốc tế; b.
Các loại hình vận tải hành khách bằng ô tô Theo Trần Thị Lan Hương (2006), “Tổ chức và quản lý vận tải ô tô” thì vận tải hành khách bằng phương tiện ô tô có các loại hình sau: - Vận tải hành khách theo tuyến cố định: Vận tải hành khách theo tuyến cố định là có xác định bến đi, bến đến và xe chạy theo lịch trình, hành trình quy định, các điểm dừng để lấy khách, các điểm đỗ cho khách nghỉ ngơi cũng đã được xác định trong hành trình chạy xe. Tuyến vận tải khách cố định có thể là những tuyến trong một tỉnh, thành phố, tuyến liên tỉnh hoặc tuyến vận tải khách qua biên giới đến các nước trong khu vực. Đơn vị hoặc cá nhân tham gia vận tải khách trên tuyến cố định nào thì phải đăng ký phương án chạy xe, bao gồm lịch trình, hành trình, loại phương tiện, giá vé và các dịch vụ khác (nếu có) với cơ quan quản lý tuyến, phải có cam kết thực hiện phương án chạy xe đã dăng ký. Cơ quan quản lý vận tải khách theo tuyến cố định như sau: Cục đường bộ Việt Nam quản lý tuyến vận tải khách quốc tế, tuyến liên tỉnh trên 1000km.
Các khu quản lý đường bộ quản lý tuyến liên 9 tỉnh có cự ly từ 300-1000km, có bến đi thuộc địa danh các tỉnh, thành phố nằm trong phạm vi khu quản lý. [11] Sở giao thông vận tải quản lý tuyến nội tỉnh, tuyến liên tỉnh với tỉnh liền kề, tuyến liên tỉnh khác có cự ly đến 300km. Trong tổ chức vận tải khách trên tuyến cố định, vấn đề quan trọng là thẩm định phương án chạy xe để đảm bảo an toàn, thuận tiện cho khách. Nếu có nhiều đơn vị cùng chạy trên tuyến, có giờ xuất bến trùng nhau, cần tổ chức hiệp thương để sắp xếp lịch trình.
Các doanh nghiệp vận tải không được bỏ chuyến, tự ý đưa thêm xe vào tuyến quá số lượng đăng ký, chuyển nhượng khách dọc đường không có lý do chính đáng, thu tiền của khách cao hơn giá vé đăng ký, chạy sai lịch trình và hành trình quy định. Vận tải khách bằng xe buýt trong thành phố và vùng phụ cận thuộc loại hình vận tải khách. Theo tuyến cố định nhưng có đặc thù riêng. Xuất phát từ nhu cầu đi lại của số đông hành khách như đi học, làm việc ở các xí nghiệp, công sở vào một giờ nhất định nên có khoảng thời gian cao điểm, trước giờ làm việc và sau giờ tan tầm.
Trong khoảng thời gian này, bố trí từ 5 đến 7 phút có một chuyến xe. Ngoài giờ cao điểm bố trí từ 10- 15 phút trên một chuyến xe. Các điểm dừng đỗ để khách lên xuống không quá 500m, tại điểm này xây dựng nhà chờ có mái che và ghế ngồi cho khách. Trên những tuyến đông khách, bố trí xe có sực chở lớn, 1 hoặc 2 tầng, có 2 đến 3 cửa lên xuống, số chỗ đứng nhiều hơn ghế ngồi để chở khách nhiều hơn.
- Vận tải hành khách theo tuyến không cố định: Vận tải khách không theo tuyến cố định là loại hình vận tải mà hành trình, lịch trình theo yêu cầu của khách. Cước tính theo km xe chạy, thời gian chờ đợi hoặc tính theo ngày xe nếu thuê bao cả xe. Có 2 loại hình vận tải theo hình thức này + Vận tải bằng taxi + Vận tải theo hợp đồng. Taxi là loại hình vận tải phục vụ theo yêu cầu của khách trong các khu 10 đô thị và vùng phụ cận, taxi bắt buộc phải có đồng hồ tính tiền và bộ đàm để thường xuyên liên lạc với trung tâm, người lái xe chịu sự điều hành của trung tâm trong ca làm việc taxi chỉ sử dụng loại xe nhỏ, có số chỗ ngồi tối đa đến 8 ghế (kể cả ghế người lái xe).
Vận tải theo hợp đồng là loại hình vận tải phục vụ theo nhu cầu của khách thuê bao cả xe phục vụ cho chuyến đi. Những thoả thuận của hai bên vận tải và khách được ghi vào hợp đồng. Hợp đồng vận tải là chứng từ bắt buộc phải có. Khách sử dụng xe theo hợp đồng thường có nhu cầu cao hơn về tiện nghi của xe và tinh thần phục vụ tận tình, chu đáo của lái xe nên cần phải chuẩn bị chu đáo và theo dõi giải quyết kịp thời [11].
Vai trò, ý nghĩa của vận tải hành khách Vận tải bằng xe ô tô có chức năng vận tải hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, tiêu dùng và vận tải hành khách nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Nếu thiếu phương thức vận tải này thì bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng không thể thực hiện được, việc giao lưu hàng hóa giữa các khu vực, các vùng và sự đi lại của nhân dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, vận tải bằng xe ô tô luôn cần thiết với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, với việc lưu thông hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu đi lại của nhân dân. Vận tải bằng xe ô tô là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa thành phố với nông thôn, giữa miền xuôi với miền ngược.
Ngoài ra, vận tải bằng xe ô tô còn làm nhiệm vụ chuyển tải giữa vận tải đường sắt, vận tải hàng không, vận tải đường biển, vận tải đường thủy nội địa đến các điểm sản xuất và tiêu dùng. Vận tải bằng xe ô tô còn phục vụ đắc lực cho việc vận tải nhân lực, vật tư, thiết bị đến cứu trợ các vùng có thiên tai như hỏa hoạn, bão lũ, động đất.để phòng, chống hay khắc phục hậu quả khi có sự cố xẩy ra.