Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁM ĐỊNH Y KHOA 1. Giám định y khoa 1. Quan niệm về giám định y khoa trên thế giới. Nhìn chung các nước đều có quan niệm giám định tư pháp là việc giám định được thực hiện bởi nhà chuyên môn (người am hiểu, tinh thông về lĩnh vực cần giám định) để làm sáng tỏ vấn đề có liên quan, theo trưng cầu của cơ quan điều tra, truy tố và xét xử hoặc theo yêu cầu của người tham gia tố tụng đến vụ án dưới góc độ chuyên môn nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án.
Về tổ chức giám định tư pháp của các nước trên thế giới được tổ chức rất đa dạng, không có một mô hình chung bắt buộc mà tuỳ theo thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước và điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia. Hầu hết các nước trên thế giới, giám định pháp y và pháp y tâm thần được giao cho ngành Y tế đảm trách, giám định kỹ thuật hình sự được giao cho ngành Công an. Các lĩnh vực giám định này thường có các cơ quan chuyên trách và có giám định viên được bổ nhiệm hoặc được công nhận làm việc chuyên trách hoặc luôn phải có bộ phận chuyên trách, vì thường xuyên có yêu cầu giám định của các cơ quan tố tụng. Giám định tư pháp ở các lĩnh vực khác như xây dựng, tài chính, ngân hàng, văn hoá, giao thông, môi trường, khoa học công nghệ… đều do các cơ sở khoa học, tổ chức chuyên môn như các Viện nghiên cứu khoa học, các đơn vị chuyên môn ở các ngành, lĩnh vực thực hiện giám định với hình thức kiêm nhiệm, làm giám định theo vụ việc khi có trưng cầu của các cơ quan tố tụng hoặc chỉ bổ nhiệm hoặc công nhận và lập danh sách giám định viên.
7 Quan niệm về giám định y khoa ở Việt Nam Nghiên cứu mô hình tổ chức cơ quan giám định của các quốc gia cho thấy sự đa dạng trong tổ chức của cơ quan này, tuỳ theo thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước và điều kiện cụ thể ở mỗi quốc gia. Đây là kinh nghiệm hữu ích, có tính tham khảo cao để Việt Nam sửa đổi, bổ sung Luật nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế về giám định tư pháp, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đồng thời thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác giám định, bảo đảm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng nói chung và trong giải quyết án tham nhũng, kinh tế nói riêng. Giám định y khoa liên quan đến tất cả các chuyên khoa của ngành y như nội, ngoại, thần kinh, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, bệnh nghề nghiệp…và các chuyên khoa cận lâm sàng như thăm dò chức năng, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm. Ngoài ra còn có liên quan với các chuyên khoa về y học dự phòng, vệ sinh công cộng, môi trường đặc biệt liên quan đến nhiều lĩnh vực xã hội học.
Giám định y khoa cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện các chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước với người lao động, đặc biệt những người có công với đất nước, có tác dụng thiết thực với việc quản lý phân bổ sức lao động giúp người lao động bảo vệ hiệu quả sức lao động của mình. Hội đồng giám định y khoa từ Trung ương đến địa phương và các ngành đều do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, chỉ đạo nội dung hoạt động và đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để các hội đồng tiến hành thực hiện nhiệm vụ. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm giám định Có rất nhiều khái niệm liên quan tới giám định như giám định tư pháp, giám định kinh tế, giám định về tố tụng hình sự và giám định về y khoa.
nhưng để có một khái niệm chung nhất tác giả đã nghiên cứu các vấn đề giám định nêu trên và rút ra khái niệm chung nhất. Giám định là một hoạt động khoa học kỹ thuật cao và mang tính đặc thù đồng thời giám định cũng được xem là ngành kinh doanh. Tầm quan trọng của dịch vụ giám định không chỉ liên quan đến số phận của hàng hóa hay doanh nghiệp có hàng hóa cần giám định mà liên quan đến cả tính mạng con người. Khái niệm giám định y khoa Giám định y khoa là giám định bệnh tật dị dạng,dị tật có liên quan tới người kháng chiến và con đẻ của họ.
Ngoài ra giám định y khoa còn sử dụng cho các công ty có quyết định chính xác cho các trường hợp nghỉ hưu sớm mất sức lao động, tai nạn nghề nghiệp,người lao động thì có thể dựa vào kết quả giám định y khoa để được hưởng những quyền lợi xứng đáng.3 Khái niệm khám giám định - Khám giám định lần đầu là lần đầu thực hiện khám giám định cho đối tượng, không phân biệt nội dung yêu cầu giám định, kể cả những đối tượng đã khám xác định mức độ khuyết tật ở Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã hoặc đã khám sức khỏe ở Hội đồng khám tuyển nghĩa vụ quân sự mà đối tượng hoặc tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan không đồng ý với kết quả khám đó. - Khám giám định lại là khám giám định từ lần thứ hai trở đi theo yêu cầu của cơ quan quản lý đối tượng hoặc của bản thân đối tượng đã được khám giám định lần đầu. 9 - Khám giám định phúc quyết là khám giám định trong trường hợp đã khám giám định lần đầu hoặc khám giám định lại tại Hội đồng GĐYK cấp tỉnh hoặc Hội đồng GĐYK các Bộ do Hội đồng GĐYK cấp Trung ương thực hiện.3 Vai trò tính chất của giám định y khoa Giám định y khoa là một hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đặc thù, liên quan đến việc giải quyết chế độ, chính sách cho các đối tượng, vì vậy cần bảo đảm độ chính xác cao, bình đẳng, nhanh chóng và thuận tiện. Để tránh sai sót trong quá trình tổ chức khám giám định, Hội đồng Giám định tuân thủ chặt chẽ các quy trình từ khâu tiếp nhận, xử lý hồ sơ, đến thực hiện các thao tác kỹ thuật chuyên môn, cũng như việc hoàn trả hồ sơ và các thủ tục hành chính cần thiết cho các đối tượng trong thời gian nhanh nhất.
Tổ chức khám, giám định đúng đối tượng, đúng bệnh và đánh giá mức độ bệnh tật, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng, Trung tâm Giám định y khoa tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm túc các quy trình chuyên môn theo quy định; không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, giám định viên, các thành viên trong Hội đồng Giám định. Hiện nay chức năng này có cơ quan y tế nhà nước đảm nhận với đủ luật lệ được quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo kết luận giám định chính xác nhất. Giám định y khoa về bản chất là một chẩn đoán y học ở mức cao nhất có thể làm cơ sở cho giải quyết quyền lợi của người bệnh là đương sự đang được hưởng theo chế độ chính sách, hưởng bảo hiểm hay thanh toán chi phí theo các loại quan hệ dân sự có hợp đồng đúng luật. Văn bản giám định y khoa là văn bản y tế có giá trị hiệu lực cao nhất trong hồ sơ dân sự vì hội đủ 2 yếu tố: Người khám giám định là chuyên gia y học và được bổ nhiệm chức danh giám định viên theo luật định.
Ví dụ một tờ giấy ra viện, một tờ giấy mổ chỉ 10 thuần túy về thủ tục hành chính y tế chưa đủ sức nặng của hiệu lực pháp lý, trong khi cũng trường hợp ấy qua giám định y khoa sẽ đảm bảo tính chuẩn xác về y học và đủ hiệu lực pháp lý. Trong các giao dịch quốc tế, các văn bản y khoa phải được lập theo hình thức Medical Certificate (chứng thư y học) mới hợp lệ thay cho các loại giấy ra viện, giấy mổ. chính là theo thông lệ này. Việc giám định đòi hỏi toàn bộ hồ sơ y tế có trước của người cần giám định, tiếp theo khám giám định là quá trình khám tổng quát, toàn diện các xét nghiệm, thăm dò chức năng, chẩn đoán hành ảnh.
do các giám định viên được công nhận; quá trình này có nhiệm vụ phải đưa ra được một chẩn đoán đầy đủ, chính xác, tiên lượng được diễn biến sau này của người bệnh được giám định. Để định lượng được tình trạng sức khỏe, người ta có bảng chuẩn tính theo tỉ lệ phần trăm từng loại thương tích, bệnh tật. Cuối cùng văn bản giám định phải kết luận theo một bảng tiêu chuẩn danh mục bệnh, thương tật và xác định một tỉ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe so với một chuẩn tuổi trung niên đang làm việc bình thường. Nguyên tắc giám định y khoa Gồm những nguyên tắc sau: - Tuân thủ pháp luật, tuân theo quy trình, quy chuẩn chuyên môn.
- Trung thực, kịp thời, chính xác, khách quan. - Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề liên quan trong phạm vi được yêu cầu. - Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể. Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng GĐYK chủ trì phiên họp theo sự ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng.
Việc ủy quyền này phải được thực hiện bằng văn bản. - Hội đồng họp kết luận về tình trạng thương tật, bệnh tật, tỷ lệ phần trăm (%) tổn thương cơ thể (nếu có) của đối tượng giám định trên cơ sở hồ sơ 11 khám GĐYK và thực chứng đối tượng hoặc hình ảnh khám đối với đối tượng giám định được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 17 Thông tư52/2016 và ghi vào sổ họp Hội đồng, hồ sơ khám giám định y khoa. - Kết luận của Hội đồng phải bảo đảm có sự nhất trí của ít nhất 2/3 (hai phần ba) số thành viên chính thức có mặt tại phiên họp Hội đồng. - Kết luận của Hội đồng GĐYK được lập dưới hình thức Biên bản GĐYK theo mẫu quy định.
Biên bản phải do Chủ tịch Hội đồng hoặc người được Chủ tịch Hội đồng ủy quyền chủ trì phiên họp Hội đồng ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu của Hội đồng GĐYK. - Trong thời gian 10 (mười) ngày làm việc, kể từ khi Hội đồng có kết luận, Cơ quan thường trực Hội đồng GĐYK có trách nhiệm phát hành Biên bản GĐYK.