CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1. Tổ chức phi chính phủ Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âu vào đầu thế kỷ XX. Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945.
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ. Một số nước coi tất cả các tổ chức không thuộc về Chính phủ là tổ chức PCP; trong khi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là những chủ thể có t ư cách pháp nhân, các tổ chức không thuộc Chính phủ như: Các Viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các Quỹ. Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chức PCP được quan tâm và sử dụng trong thực tiễn nhiều nhất: - Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ ch ức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo v ệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng. Với cách sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với Chính phủ.
Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện. Cho dù trong hai thập kỷ trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở 10 nên chuyên nghiệp hơn nhưng các nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ. - Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, là cách định nghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “T ổ ch ức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một Tổ chức, Hiệp hội, Quỹ Văn hóa Xã hội, Quỹ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạt đ ộng vì l ợi nhuận. Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo ki ểu chia lợi nhuận.
Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đ ảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”. Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo hiểu một cách chung nhất là các tổ chức Hội, Quỹ VHXH, Hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thu ộc khu v ực nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận. Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không đ ược và không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận. Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ.
Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau đ ể ch ỉ các t ổ chức phi chính phủ. Chẳng hạn ở Pháp, đó là Tổ chức kinh t ế - xã h ội (Économie Sociale); ở Mỹ thì gọi là Tổ chức phi lợi nhu ận hay T ổ ch ức t ự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công (Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản g ọi là Hi ệp h ội (Verbände); trong khi đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study of Global Governance) l ại th ường sử dụng thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization). Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, vi ệc phát huy, tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước. Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, th ực hi ện xã h ội hóa, tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạ i hóa đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, n ước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính sách đối ngoại rộng mở, nhà nước đã thu hút ngày càng nhi ều t ổ chức PCPNN đến Việt Nam. Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh miền núi, các tỉnh phía Nam, các vùng dân tộc ít người đếu có các dự án của các tổ chức PCPNN như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, ch ương trình nước sạch nông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểu học, trường mẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, cảnh báo và ứng phó thiên tai. Mặc dù kết qu ả c ủa nh ững trợ giúp này còn khiêm tốn, nhưng nó đã góp một phần với Chính ph ủ và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh với nghèo đói, b ệnh t ật và cũng giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn về các tổ chức phi chính phủ. Thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” mới du nhập vào Việt Nam, lần đầu tiên được dùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đến nay chưa có khái niệm chính thống về “Tổ chức phi chính phủ”.
Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra khái niệm theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có nhi ều ý ki ến tập trung vào nội dung sau: 12 Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý của nhà nước. 13 Hiện nay, tại Việt Nam có ba loại hình tổ chức PCPNN đang ho ạt động đó là: - Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch. Các tổ chức này xuất hiện trên th ế gi ới r ất sớm. Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vi một nước.
Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chi ếm s ố lượng đa số tuyệt đối. Ví dụ như: tổ chức USAID, JICA, Oxfam Anh Quốc. - Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập. Về số lượng, các tổ chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới và họ phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác.
Tính chất hoạt động của các tổ chức dạng này thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế b ộ máy, đội ngũ nhân viên đông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp. Ví dụ: tổ chức Handicap Quốc tế, OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision, World Wild Fun. - Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các t ổ ch ức do Chính phủ lập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn ph ụ thuộc vào ngân sách của chính phủ. Ví dụ như: Viện Giáo dục Quốc tế (IIE), Cơ quan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Cơ quan phát tri ển qu ốc t ế Hàn Quốc (KOICA).
Tại Việt Nam, các tổ chức PCPNN ngày càng nhận được sự quan tâm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức PCPNN đã đóng góp một phần không nhỏ cho quá trình phát triển KT-XH của Việt Nam. Cụ thể như sau: Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội 14 Muốn phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội. Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh t ế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng.
Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam gi ải quy ết m ột s ố vấn đề khó khăn như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân. Nhiều dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN không chỉ giúp giải quyết các v ấn đ ề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vào quá trình phát tri ển b ền vững của địa phương. Ngoài ra, do hình thức viện trợ của các tổ ch ức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng nên đã th ực s ự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là những người nghèo, thiệt thòi trong xã hội. Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN cùng các tình nguyện viên của mình còn có các h ỗ tr ợ khác nh ư hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm.
Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án, các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức PCPNN, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình. Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong vi ệc phát huy tính năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân. Có thể nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức PCPNN là một môi trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân.