phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục đính kèm, nội dung chính của luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Đối với khái niệm về DNNVV, trƣớc đây mỗi quốc gia, khu vực lại có quan niệm tƣơng đối khác nhau. Đến nay, Liên minh Châu Âu (EU) đã đƣa ra khái niệm chuẩn hóa hơn.
DN nhỏ là các DN có dƣới 50 lao động, còn DN vừa là các DN có dƣới 250 lao động. Tuy nhiên, ở Mỹ, DN có dƣới 100 lao động đƣợc gọi là DN nhỏ và dƣới 500 lao động là DN vừa, có thể nói tùy vào tình hình, điều kiện ở mỗi quốc gia, khu vực kinh tế mà khái niệm về DNNVV đƣợc quy định khác nhau nhƣng đều có điểm chung là dựa theo tiêu chí về số lƣợng lao động là chính. Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ nƣớc ta định nghĩa: “DNNVV là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đƣợc phân loại: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo số lao động bình quân và tổng doanh thu của năm hoặc theo tổng nguồn vốn”. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: Để phân loại DN, có hai nhóm tiêu chí đƣợc xây dựng bao gồm nhóm tiêu chí định tính và định lƣợng.
Các tiêu chí định tính dựa trên những đặc trƣng cơ bản của DN nhƣ tính chuyên môn hoá còn thấp, công tác quản lý ít có đầu mối, mức độ phức tạp thấp. Ƣu thế của các tiêu chí này là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhƣng trong thực tế thƣờng khó xác định. Do đó chúng chỉ đƣợc dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng, gần nhƣ 12 không đƣợc sử dụng để phân loại trong thực tế. Về mặt định lƣợng có thể bám vào các tiêu chí nhƣ số lƣợng lao động, giá trị tài sản hoặc vốn, doanh thu, lợi nhuận,… để phân loại.
Trong đó, số lao động đƣợc đo lƣờng bằng lao động trung bình theo thống kê, lao động thƣờng xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn có thể là tổng giá trị tài sản (vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu, gồm tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm. Hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại DN theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác nhƣ doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lƣợng hóa đƣợc bằng giá trị tiền tệ, vốn bị ảnh hƣởng bởi lạm phát, cụ thể tại bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số quốc gia, khu vực trên thế giới Quốc gia/ Cách phân loại DN Số lao động Vốn đầu tƣ Doanh thu khu vực nhỏ và vừa bình quân Không có quy Không có quy Hoa Kỳ Nhỏ và vừa 0 – 500 định định - Ngành sản xuất 1 – 300 0-300 triệu ¥ Không có quy Nhật Bản - Ngành thƣơng mại 1 – 100 0-100 triệu ¥ định - Ngành dịch vụ 1 – 100 0-50 triệu ¥ Không có quy - Siêu nhỏ < 10 Không có quy định EU - Nhỏ < 50 định <7 triệu € - Vừa < 250 <27 triệu € Không có < 200 triệu Không có quy Thái Lan Nhỏ và vừa quy định Baht định Không có quy Malaysia Ngành sản xuất 0 – 150 0-25 triệu RM định Peso 1,5-60 Không có quy Philippine Nhỏ và vừa < 200 triệu định (Nguồn: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998) 13 Với Việt Nam, theo điều 4, luật hỗ trợ DNNVV năm 2017 của Quốc hội (số 04/2017/QH14) quy định rằng: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng.” Tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2018, quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV, thì tiêu chí xác định DNNVV nhƣ sau: DNNVV theo quy mô đƣợc chia thành ba cấp DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, cụ thể nhƣ Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao Doanh Số lao Doanh Số lao Doanh Lĩnh vực Vốn Vốn Vốn động thu động thu động thu Nông ≤3 ≤ 20 ≤ 100 ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 100 ≤ 50 tỷ ≤ 200 ≤ 200 Lâm tỷ tỷ tỷ ngƣời đồng ngƣời đồng ngƣời tỷ đồng Thủy sản đồng đồng đồng Công ≤3 ≤ 20 ≤ 100 nghiệp – ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 100 ≤ 50 tỷ ≤ 200 ≤ 200 tỷ tỷ tỷ Xây ngƣời đồng ngƣời đồng ngƣời tỷ đồng đồng đồng đồng dựng Thƣơng ≤3 ≤ 50 ≤ 100 ≤ 10 ≤ 10 tỷ ≤ 50 ≤ 100 ≤ 100 ≤ 300 mại dịch tỷ tỷ tỷ ngƣời đồng ngƣời tỷ đồng ngƣời tỷ đồng vụ đồng đồng đồng (Nguồn: Chính phủ, 2018) Nhƣ vậy, theo cách phân loại này của Chính phủ thì DNNVV của Việt Nam đƣợc phân loại dựa trên tiêu chí số lao động bình quân và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn.
Trong đó, tiêu chí số lao động bình quân là tiêu chí ƣu tiên. Đặ đ ểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Tính chất hoạt động kinh doanh: DNNVV thƣờng đƣợc đặt gần với khách hàng tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, DNNVV đóng vai vệ tinh của các DN lớn hơn, là sản phẩm đầu tƣ trong nền kinh tế; DNNVV thực hiện nhiều các hoạt động trong nền kinh tế từ khâu sản xuất đến phân phối và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ giải trí, sinh hoạt, tƣ vấn…; Ngoài ra, DNNVV trực tiếp tham gia chế biến từ khâu sản xuất cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Do vậy, tính chất hoạt động kinh doanh của DNNVV có lợi thế về tính linh hoạt, dễ dàng thay đổi cấu trúc, sản phẩm và thích ứng cao trong môi trƣờng năng động nhƣ hiện nay. [17] - Về vốn: DNNVV có nguồn vốn nhỏ, thông thƣờng thuộc khối kinh tế tƣ nhân, việc đầu tƣ vào công nghệ, quy trình sản xuất chủ yếu dựa vào vốn tự có, cùng vốn vay mƣợn từ bạn bè, ngƣời thân… DNNVV thƣờng có sản phẩm phục vụ trực tiếp vào đời sống, cho nên có nhu cầu tiêu thụ cao. Vốn ít nên chu kỳ sản xuất ngắn dẫn đến khả năng nhanh thu hồi vốn. Với đặc điểm có quy mô nhỏ, linh hoạt, dễ thích nghi với những biến động không ngừng của thị trƣờng, sản phẩm thƣờng đáp ứng đƣợc mọi tầng lớp nhu cầu của ngƣời dân, cùng với quy mô ban đầu nhỏ cho nên DNNVV dễ tồn tại và phát triển rộng khắp ở cả nông thôn lẫn thành thị, do vậy phần nào phủ khắp các ngành nghề của nền kinh tế cùng số lƣợng DN lớn, từ đó tạo thị trƣờng hƣớng đến cạnh tranh lành mạnh.
- Về năng lực cạnh tranh: năng lực cạnh tranh của các DNNVV hạn chế do quy mô nhỏ, vốn ít nên việc đầu tƣ công nghệ, cơ sở hạ tầng ban đầu còn khó khăn. Công nghệ lạc hậu hơn các DN trong ngành cho nên chất lƣợng sản phẩm không cao, chi phí cao dẫn đến tính cạnh tranh trên thị trƣờng thấp. Ngoài ra, do quy mô của các DN này không lớn, cho nên khả năng tìm kiếm, gia nhập thị trƣờng kém, khả năng tiếp cận thị trƣờng quốc tế thấp. Chủ yếu do các DNNVV thƣờng là những DN mới hình thành, hoạt động chƣa lâu dài, 15 công tác tiếp thị bƣớc đầu còn kém hiệu quả nên cũng chƣa tiếp cận đƣợc nhiều khách hàng.
- Về lao động: DNNVV có quy mô lực lƣợng lao động nhỏ, đa số là lao động thủ công, lao động gia đình chiếm tỷ trọng lớn, trình độ quản lý và tay nghề còn hạn chế. Kinh nghiệm của đội ngũ quản lý còn yếu, quản lý chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm, một bộ phận lớn chủ DN chƣa có kiến thức chuyên môn hay đƣợc đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý. Chế độ đãi ngộ, trả lƣơng của DNNVV còn thấp cho nên khó thu hút đƣợc những lao động có tay nghề cao, đội ngũ quản lý có trình độ. - Về công nghệ và máy móc thiết bị: do chi phí đầu tƣ ban đầu vào công nghệ hiện đại là cao cho nên đa phần máy móc thiết bị của DNNVV thƣờng lạc hậu so với mặt bằng chung của thế giới, tốc độ thay thế chậm.
Đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn để cải tiến công nghệ thƣờng ít. Tuy vậy, DNNVV thƣờng cho ra những sáng kiến mới về công nghệ dựa trên những công nghệ cũ, điều này khiến cho sản phẩm của DNNVV có điểm khác biệt so với phần còn lại trên thị trƣờng. - Về năng lực quản lý điều hành: các DNNVV có các nhà quản trị thƣờng bao quát, quán xuyến các mặt của hoạt động kinh doanh, dẫn đến khả năng liên kết và nắm bắt cũng nhƣ tập trung chuyên sâu vào một lĩnh vực của các nhà quản lý DN gặp khó khăn. Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý (đặc biệt là khi DN mở rộng dần quy mô) trong các DNNVV còn rất hạn chế so với mặt bằng chung [18].
Quản lý n à nƣớ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Khái niệm quản lý nhà nước đối với DNNVV Có thể hiểu Quản lý nhà nƣớc (QLNN) “là sự quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nƣớc, ý chí nhà nƣớc, thông qua bộ máy nhà nƣớc làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để đạt 16 đƣợc mục tiêu kinh tế - xã hội (KT – XH) nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao” [11, tr 59].