Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam - Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam. 5 c Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG FDI VÀO LĨNH VỰC KẾT CẤU HẠ TẦNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Thu hút FDI và quản lý hoạt động FDI nhƣ thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề mang tính thời sự, tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hết sức quan tâm. Thời gian gần đây, trong bối cảnh nƣớc ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề này đã trở thành trọng tâm nghiên cứu của không ít cá nhân, tổ chức cả trong và ngoài nƣớc.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề thu hút và quản lý FDI trên các lĩnh vực, địa bàn khác nhau. Trong đó, liên quan đến chủ đề và nội dung của luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật sau: - Chu Nữ Ngọc Phụng (2012), Phân cấp quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, trƣờng Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài đã nghiên cứu làm rõ một vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động FDI, đó là phân cấp quản lý. Nghiên cứu của tác giả đã chỉ rõ thực trạng phân cấp quản lý hoạt động FDI ở cấp Trung ƣơng và cấp địa phƣơng, bên trong và bên ngoài các KCN, KCX.
Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong chủ trƣơng phân cấp toàn diện, triệt để cho các địa phƣơng trong quản lý đầu tƣ. Tuy nhiên, đề tài mới đề cập đến vấn đề phân cấp quản lý đối với hoạt động FDI nói chung, chƣa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể. 6 c - Phan Thị Thúy (2010), Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, trƣờng Đại học Ngoại thƣơng. Đề tài đã đƣa ra góc nhìn tổng quan về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động FDI tại Việt Nam cả trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, tác giả cũng chƣa đi sâu nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với FDI trên các lĩnh vực, địa bàn khác nhau. - Trần Thị Thanh Huyền (2009), Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc và những gợi ý chính sách cho Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị, trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về kinh nghiệm của Trung Quốc trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động FDI, trong đó chắt lọc đƣợc một số kinh nghiệm phù hợp để đƣa ra những gợi mở chính sách đối với Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả cách nay đã 10 năm, tình hình Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung hiện nay đã có nhiều thay đổi, do đó cần những nghiên cứu cập nhật hơn để bổ sung cho đề tài này.
- Nguyễn Thu Hằng (2012), Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam: Tác động và một số vấn đề đặt ra, Luận văn thạc sỹ Kinh tế quốc tế, trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài đã có những đánh giá sâu sắc về những tác động cả mặt tích cực và tiêu cực của FDI Trung Quốc tại Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài chỉ đề ra một số giải pháp đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI từ Trung Quốc, trong khi vấn đề quản lý nguồn vốn này chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Cùng chủ đề với đề tài nghiên cứu trên, các nghiên cứu của Trần Thị Hƣơng (2006), Nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn này, luận văn thạc sỹ Kinh tế, trƣờng Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh; và Đỗ Huy Thƣởng (2011), Đầu tư 7 c trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, luận văn thạc sỹ Kinh tế quốc tế, trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng tập trung đánh giá thực trạng nguồn vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam, song chƣa đƣa ra đƣợc giải pháp quản lý phù hợp nguồn vốn này.
Mặt khác, do vấn đề thời gian nên số liệu của các nghiên cứu này đến nay đã thiếu tính cập nhật. Về FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng, mặc dù các đề tài nghiên cứu liên quan đến FDI đều ít nhiều đề cập đến một số khía cạnh liên quan, song cho đến nay ở Việt Nam chƣa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về lĩnh vực này. Tuy nhiên, có thể tham khảo một số nghiên cứu nƣớc ngoài sau: FDI in Infrastructure (FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng) của Viện Nghiên cứu Quốc tế Peterson (2011); Foreign direct investment in infrastructure in developing countries: does regulation make a difference? (Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào kết cấu hạ tầng ở các nƣớc đang phát triển: Quy tắc có tạo nên khác biệt?) của Colin Kirkpatrick, David Parker và Yin-Fang Zhang (2006, Transnational Corporations, Vol. Đây là những nghiên cứu lý luận cơ bản, có tính chất gợi mở để học viên tiến hành nghiên cứu chuyên biệt về FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng và quản lý hoạt động này ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên đã đƣa ra một số góc nhìn độc đáo về đặc trƣng, xu hƣớng của dòng vốn FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng trên phạm vi toàn cầu và nhu cầu thu hút FDI vào lĩnh vực này của các quốc gia, nhất là các nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, do đặc thù là nghiên cứu lý thuyết nên các dữ liệu, kiểm nghiệm thực tế về vấn đề này của các nghiên cứu trên còn hạn chế. Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu về hoạt động FDI vào Việt Nam nói chung, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam nói riêng thƣờng thiên về góc độ kinh tế quốc tế, góc độ quản lý nhà nƣớc có đƣợc đề cập song vẫn chƣa xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu. Về lĩnh vực kết cấu hạ tầng, qua khảo sát cho thấy, hiện chƣa có công trình nghiên cứu tổng 8 c thể nào về FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực này ở Việt Nam.
Nhƣ vậy, đề tài luận văn "Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam" đã đề cập đến một vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ, khoảng trống nghiên cứu còn rất lớn. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng 1. Khái niệm, đặc điểm FDI vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng 1. Khái niệm FDI Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một trong những nguồn đầu tƣ quốc tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc.
Do vậy, khi nghiên cứu FDI trên phƣơng diện đầu tƣ quốc tế, trƣớc hết cần nhận thức đƣợc các khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tƣ quốc tế nói chung. Theo Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thƣờng Lạng (2012, tr.129): "Đầu tƣ quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn đƣợc di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tƣ nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia". FDI là một trong những loại hình đầu tƣ quốc tế, thuộc hình thức đầu tƣ trực tiếp. Theo Ngô Kim Thanh (2011, tr.441): "Đầu tƣ trực tiếp là việc xây dựng các công ty con sở hữu hoàn toàn.
Để xây dựng một công ty con sở hữu hoàn toàn ở thị trƣờng nƣớc ngoài, công ty có thể thành lập một nhà máy hoàn toàn mới ở nƣớc đó hoặc mua một công ty đã thành lập của nƣớc chủ nhà và sử dụng nó để thúc đẩy sản phẩm của mình trong thị trƣờng sở tại". Cũng theo Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thƣờng Lạng (2012, tr.143): "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một loại hình của đầu tƣ quốc tế, trong đó ngƣời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngƣời trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn". 9 c Nhƣ vậy, thông qua các khái niệm trên, có thể hiểu bản chất của FDI chính là sự đầu tƣ vốn, nguồn lực vật chất và nhân lực của các công ty nƣớc ngoài nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nƣớc sở tại và làm chủ toàn bộ hay một phần của cơ sở đó. Với loại hình đầu tƣ này, chủ đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ, tỷ lệ vốn góp lớn này sẽ cho phép họ tham gia quản lý, điều hành trực tiếp đối tƣợng đầu tƣ.
Nguồn vốn tƣ nhân, vốn của các công ty là nguồn vốn FDI chủ yếu, bởi các công ty này luôn mong muốn thu đƣợc lợi nhuận cao hơn thông qua việc tổ chức, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia đầu tƣ. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp nhất định, nguồn vốn của Nhà nƣớc đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tƣ FDI, nhƣ việc Chính phủ Trung Quốc đứng sau tài trợ vốn cho các thƣơng vụ mua bán, sáp nhập (M&A) doanh nghiệp nƣớc ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu: Chính phủ Trung Quốc cho phép doanh nghiệp trong nƣớc khi đầu tƣ ra nƣớc ngoài có thể trao đổi tiền trực tiếp qua ngân hàng mà không phải đăng ký với cơ quan chức năng (thực chất là ngầm tài trợ cho doanh nghiệp thông qua hoạt động của ngân hàng); đơn giản hóa thủ tục phê duyệt thành lập chi nhánh nƣớc ngoài cho các ngân hàng trong nƣớc, niêm yết cổ phiếu ở thị trƣờng chứng khoán quốc tế và thực hiện M&A quốc tế của các doanh nghiệp trong nƣớc (Lê Minh, 2015). Về hình thức, FDI đƣợc thực hiện dƣới nhiều dạng thức khác nhau, với quy mô và mức độ góp vốn khác nhau nhƣ hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài.