Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực [6].
Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng theo một kế hoạch tiến độ xác định. Các đặc trưng cơ bản của dự án bao gồm: -Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng -Dự án có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn -Dự án có liên quan đến nhiều bên và sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án -Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo -Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực -Dự án luôn có tính bất định và rủi ro. Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cụ thể nào đó của người sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định [5]. Theo Luật đầu tư năm 2005: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Các hình thức đầu tư gồm có: - Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, cổ phần, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm/dịch vụ nào đó trong một thời gian xác định [7]. Hay Luật xây dựng ghi "dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/dịch vụ trong một thời gian nhất định".
Cụ thể là, phát hiện ra một cơ hội đầu tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trước hết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác định điều kiện và khả năng, xác định phương án tối ưu để xây dựng bản dự án đầu tư mang tính khả thi được gọi tắt là dự án đầu tư (luận chứng kinh tế kỹ thuật). Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng "Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định". Nói một cách tổng quát "dự án đầu tư" là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định. Tính chung của định nghĩa này vẫn nằm trong khuôn khổ các yếu tố: mục đích, nguồn lực và thời gian.
Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về mục tiêu hay phương tiện cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của bản chất dự án. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012)[7]. - Mục tiêu của dự án: Thể hiện ở hai mức là mục tiêu phát triển và mục tiêu trước mắt. Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án.
- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án. - Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
- Các nguồn lực: Về vật chất, Tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Như vậy, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một ý định hay phác thảo, mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định. Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng, hay lặp lại, mà phải tạo nên một thực tế mới, một thực tế mà trước đó chưa từng tồn tại.
Theo Luật xây dựng: Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới,mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn nhất định. Luật xây dựng cũng thể hiện: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn nhất định. Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng bao gồm 2 phần, phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Dự án đầu tư xây dựng hàm chứa bản chất lưỡng tính: một mặt dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công…được giải quyết đối với các công trình xây dựng.
Mặt khác, đây là môi trường hoạt động phù hợp với những mục đích đã được đặt ra, nghĩa là một quá trình xây dựng có định hướng đối với các công trình mới hoạt cải tạo đối với các công trình hiện hữu đang sản xuất. Xuất phát từ tầm quan trọng của yếu tố thời gian, nhiều dự án đầu tư xây dựng có vốn đầu tư không lớn, nhưng thời điểm giành cơ hội cạnh tranh bán sản phẩm của chủ đầu tư ra ngoài thị trường lại cấp bách, do vậy, mà công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đảm bảo đưa công trình vào hoạt động đúng hạn có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong kinh doanh. Dự án đầu tư xây dựng có mục đích cuối cùng là công trình xây dựng hoàn thành đảm bảo các mục tiêu đề ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường. Dự án có chu kỳ riêng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn.
Dự án đầu tư xây dựng luôn có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư, chủ công trình, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, đơn vị giám sát, các nhà cung ứng…Dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, công nghệ, nhân lực, vật tư thiết bị, thời gian. Đối với các tỉnh miền núi, những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong ngành xây dựng, làm cho việc thi công lắp đặt công trình đầu tư xây dựng có nhiều điểm khác biệt so với việc thi công các sản phẩm của ngành khác. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng cơ bản Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản về thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công…được giải quyết. Các dự án đầu tư xây dựng có một số đặc điểm sau: (1).
Dự án có tính thay đổi Dự án xây dựng không tồn tại một cách ổn định cứng, hàng loạt các phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn các tác nhân từ bên trong như nguồn lực, tài chính, các hoạt động sản xuất…và bên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 ngoài như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật…thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội. Dự án có tính duy nhất Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gia, thời gian và môi trường luôn thay đổi. Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan. Mỗi dự án đều có những thời gian thực hiện nhất định, trên cơ sở đó trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và hiệu quả nhất.
Sự thành công của quản lý dự án thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã định trước hay không?