phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Bình Định. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Tổng quan về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc 1.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Theo Luật Đầu tƣ số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tƣ đƣợc hiểu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”.
“Đầu tư xây dựng cơ bản được hiểu là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế, hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của ngƣời đầu tƣ, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là việc xây dựng các công trình hạ tầng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội nhƣ: các công trình về thủy điện, thủy lợi, các công trình giao thông, cầu cảng, xây dựng nhà cửa, xây dựng các khu trung cơ, công sở, xây dựng nhà máy sản xuất để phục vụ con ngƣời và phát triển nền kinh tế, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội nhƣ công viên, các công trình phục vụ lợi ích của cộng đồng.2 Đặc điểm sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản - Sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng e 10 gắn liền với đất xây dựng công trình Mỗi công trình xây dựng đều có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối của điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trƣờng xung quanh, khí hậu, thời tiết của nơi đầu tƣ xây dựng công trình. Nơi đầu tƣ xây dựng công trình cũng chính là nơi đƣa công trình vào khai thác sử dụng.
Vì vậy, sản phẩm đầu tƣ xây dựng cơ bản đƣợc sản xuất theo đơn hàng và kèm theo đó là mục đích, nhu cầu cụ thể. Từ đó đặt ra yêu cầu đối với công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng các công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tƣ xây dựng đƣợc xác định và phê duyệt trƣớc khi thực hiện đầu tƣ xây dựng công trình. - Sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc Mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tƣ, điều kiện tự nhiên xã hội của nơi đầu tƣ xây dựng công trình. Mục đích đầu tƣ và các điều kiện địa chất, địa hình, thủy văn, khí hậu, thời tiết của nơi xây dựng công trình quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lƣợng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công, dự toán chi phí đầu tƣ của từng hạng mục công trình, công trình.
Đối với đặc điểm này đòi hỏi việc quản lý và cấp vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng để đảm bảo quản lý chặt chẽ về chất lƣợng xây dựng và vốn đầu tƣ. - Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản thường có vốn đầu tư lớn, được tạo ra trong thời gian dài Hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản hầu hết tạo ra các sản phẩm là các công trình xây dựng có giá trị lớn, đầu tƣ trong thời gian lâu dài. Chính vì vậy, phải có biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tƣ phù hợp để đảm bảo tiền vốn đƣợc sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tƣ, đảm bảo cho quá trình đầu tƣ xây dựng các công trình đƣợc thực hiện liên tục, đúng theo kế hoạch và tiến độ đã đƣợc xác định. e 11 - Sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình, mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng biệt Đầu tƣ xây dựng cơ bản đƣợc tiến hành trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội nhƣ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh.
Nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng biệt. Trong công tác quản lý và cấp vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản phải phù hợp với đặc điểm của từng loại công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ. - Đầu tư xây dựng cơ bản luôn được chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình Trong quá trình tổ chức thực hiện đầu tƣ xây dựng cơ bản đòi hỏi phải tổ chức một cách hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tƣ và tiền vốn, thực hành tiết kiệm nhƣng vẫn phải đảm bảo chất lƣợng công trình thi công.2 Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm Theo Luật Đầu tƣ công số 39/2019/QH14 ngày 13 tháng 06 năm 2019 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 4, đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc đƣợc hiểu: “ Là hoạt động đầu tƣ của nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc vào các chƣơng trình, dự án và đối tƣợng đầu tƣ công khác theo quy định. Hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản bao gồm: lập, thẩm định, quyết định chủ trƣơng đầu tƣ; lập, thẩm định, quyết định chƣơng trình, dự án đầu tƣ; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch, dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản; quản lý, sử dụng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản; nghiệm thu, bàn giao chƣơng trình, quyết toán dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản; theo dõi và đánh giá, kiểm tra kế hoạch, chƣơng trình, dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản”.
[17] e 12 Đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc là một bộ phận của đầu tƣ phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn từ nguồn ngân sách nhà nƣớc để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy, đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế nói chung và các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đƣa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu đƣợc nhiều lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thông qua nhiều hình thức nhƣ xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.2 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước - Thứ nhất, đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN chủ yếu là đầu tƣ xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, khó có khả năng thu hồi vốn, hiệu quả kinh tế xã hội do đầu tƣ những công trình này đem lại là rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của từng địa phƣơng. - Thứ hai, đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN thƣờng chiếm tỷ trọng vốn lớn trong tổng đầu tƣ phát triển từ NSNN của cả nƣớc nói chung và một địa phƣơng nói riêng. - Thứ ba, Chính phủ, Trung ƣơng hay chính quyền địa phƣơng tham gia trực tiếp vào quản lý toàn bộ quá trình đầu tƣ xây dựng các công trình thuộc nguồn vốn NSNN nhằm đảm bảo sự phù hợp với chiến lƣợc, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. - Thứ tư, các công trình sử dụng vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN phụ thuộc rất lớn vào quy mô và khả năng cân đối của ngân sách.
- Thứ năm, vốn từ NSNN trong đầu tƣ XDCB đƣợc kiểm tra, kiểm soát e 13 chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả, lãng phí hoặc phổ biến là tham ô, tham nhũng, gây thất thoát NSNN.3 Khái niệm và vai trò của vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước Vốn đầu tƣ XDCB là toàn bộ những chi phí đã bỏ ra để đạt đƣợc mục đích đầu tƣ bao gồm chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tƣ, chi phí thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác đƣợc ghi trong tổng dự toán. Theo quy định tại Luật Đầu tƣ công số 39/2019/QH14 ngày 13 tháng 06 năm 2019 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vốn nhà nƣớc là từ các nguồn sau: (1) Vốn từ NSNN; (2) Vốn công trái quốc gia; (3) Vốn trái phiếu Chính phủ; (4) Vốn trái phiếu chính quyền địa phƣơng; (5) Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ƣu đãi của các nhà tài trợ nƣớc ngoài; (6) Vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc; (7) Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tƣ nhƣng chƣa đƣa vào cân đối ngân sách nhà nƣớc; (8) Các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phƣơng để đầu tƣ. Phạm vi nghiên của luận văn này chỉ tập trung vào vốn từ NSNN.