Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quản lý nhà nước trên lĩnh vực đầu tư xây dựng trong cơ chế kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hồ Hoàng Đức, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Chí Hiếu và TS. Đinh Dũng Sỹ, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005. Công trình thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, mã số 62.01, có dung lượng 189 trang, bao gồm 3 chương và 11 mục.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) là đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chiến lược đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 - 2005 bình quân 7,5%/năm và giai đoạn 2001 - 2010 đạt bình quân 7,2%/năm, gấp đôi quy mô nền kinh tế vào năm 2010 so với năm 2000. Dẫn chứng từ nghiên cứu của Viện Phát triển Quốc tế Harvard cho thấy: để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7% đến 8%/năm, tỷ lệ vốn đầu tư cần đạt khoảng 30% GDP (tương ứng tăng trưởng 1% cần mức đầu tư tương đương 4% GDP). Hoạt động đầu tư xây dựng giữ vai trò vật chất hóa nguồn vốn này thành tài sản cố định và hạ tầng kỹ thuật.
Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa bao quát và theo kịp thực tiễn. Hệ thống pháp luật chuyên ngành còn thiếu tính đồng bộ, hiệu lực thực thi chưa cao, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn ngân sách và suy giảm chất lượng công trình. Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đầu tư xây dựng dưới góc độ kỹ thuật công trình, kinh tế xây dựng thuần túy hoặc quản trị dự án tác nghiệp, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các khía cạnh pháp lý của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là: Dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật về đầu tư xây dựng, nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng ở góc độ quản lý nhà nước bằng pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trong điều kiện vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ những đặc thù của hoạt động đầu tư xây dựng và của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trong cơ chế kinh tế mới.
- Tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư xây dựng qua 5 nội dung trọng tâm: quản lý chủ thể hoạt động đầu tư xây dựng; quản lý công tác đấu thầu; quản lý việc ký kết và thực hiện hợp đồng xây dựng; quản lý chất lượng công trình; quản lý vốn đầu tư.
- Đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư xây dựng dựa trên cơ sở thực trạng và định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, tập trung vào đối tượng quản lý trực tiếp là các dự án, công trình đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn của Nhà nước.
- Phạm vi tiếp cận: Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế - pháp lý. Luận án không tách rời hoạt động đầu tư với hoạt động xây dựng mà xem xét trong mối quan hệ biện chứng: đầu tư cho xây dựng và xây dựng là một công đoạn kỹ thuật - vật chất trong toàn bộ quá trình đầu tư phát triển.
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực tiễn quản lý và hệ thống pháp luật tại Việt Nam giai đoạn chuyển đổi cơ chế kinh tế, trọng tâm từ giai đoạn Đổi mới (1986) qua các năm 1998 - 2000 đến thời điểm ban hành Luật Xây dựng năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần mở đầu, tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài:
- GS. Nguyễn Văn Chọn (1996), Kinh tế quản trị kinh doanh xây dựng: Đi sâu nghiên cứu toàn diện các vấn đề quản lý kinh tế xây dựng ở cấp quản lý vĩ mô của Nhà nước và quản trị kinh doanh xây dựng ở cấp doanh nghiệp, kết hợp việc đánh giá các giải pháp kỹ thuật.
- VS. TSKH. Nguyễn Văn Đáng: Chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu cấp Bộ Xây dựng gồm Quản lý dự án đầu tư (mã số RD-62/2000), Quản lý dự án xây dựng (mã số RD-66/2001) và công trình Quản lý dự án xây dựng (2002): Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận kinh tế trong quản lý dự án, so sánh các mô hình quản lý dự án và phân tích đặc điểm quản lý qua từng giai đoạn đầu tư.
- TS. Nguyễn Xuân Thủy (1996), Quản lý đầu tư và xây dựng (Theo cơ chế mới): Hệ thống hóa các quy định, hướng dẫn của Nhà nước để trình bày các nguyên tắc, trình tự, thủ tục quản lý đầu tư và xây dựng.
- PGS. TS. Vũ Công Tuấn (1998), Thẩm định dự án đầu tư: Đi sâu vào các công cụ kỹ thuật - tài chính phục vụ công tác thẩm định tính khả thi của dự án.
- PGS. TSKH. Nguyễn Ngọc Châu, Quản lý đô thị: Đề cập các khía cạnh hành chính - kinh tế - kỹ thuật của công tác quản lý nhà nước đối với xu thế phát triển hệ thống đô thị.
- Các tài liệu quốc tế được tham chiếu: Donald S. Barrie và Boyd C. Paulson Jr. (1996), Quản lý công nghiệp xây dựng; Harold Bierman Jr. và Seymour Smidt (2000), Quyết định dự toán vốn đầu tư - Phân tích kinh tế các dự án đầu tư; Nick Renton (2000), Understanding - Investment - Property; Viện Phát triển Kinh tế Harvard (1994), Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay.
Vị trí của luận án: Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh kinh tế, tài chính, kỹ thuật hoặc quản trị dự án thuần túy; yếu tố pháp luật chỉ được đề cập như một nội dung phụ trợ. Luận án của Hồ Hoàng Đức định vị là công trình nghiên cứu chuyên biệt về phương diện pháp lý của quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, đặt trọng tâm vào việc sử dụng công cụ pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý luận Mác - Lênin: Vận dụng học thuyết của Karl Marx về tính tất yếu khách quan của quản lý trong nền sản xuất xã hội quy mô lớn (Bộ Tư bản, tập 23): Quản lý là hoạt động xác lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện các chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế - tài chính: Nguyên lý quản lý chặt chẽ tài chính, sản xuất, vật tư, lao động và tiền lương; chống tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến thất thoát, bế tắc công việc (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10).
- Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các quan điểm chỉ đạo tại Văn kiện Đại hội Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội IX về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách nền hành chính nhà nước, và phân định rõ chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước với hoạt động quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các học thuyết kinh tế về vai trò của Nhà nước:
- Thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith (kinh tế tự điều tiết theo quy luật thị trường).
- Thuyết can thiệp của Sismondi trong tác phẩm Những nguyên lý mới của kinh tế chính trị (1819) coi chính phủ là "bàn tay hữu hình" bảo vệ kẻ yếu và bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội.
- Học thuyết kinh tế học vĩ mô của J.M. Keynes về sự can thiệp của Nhà nước nhằm khắc phục khủng hoảng và thất bại thị trường.
- Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Paul Samuelson (kết hợp cả cơ chế thị trường và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước).
- Khái niệm chuyên ngành: Khái niệm "đầu tư" theo quan điểm của H. Bierman Jr., S. Smidt, Nick Renton và GS. Nguyễn Văn Chọn; khái niệm "hoạt động xây dựng" và "công trình xây dựng" theo Điều 2 Luật Xây dựng Trung Quốc, Điểm 1.2 Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam và Điều 3 Luật Xây dựng Việt Nam năm 2003.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính kết hợp phân tích kinh tế - pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận: Sử dụng để phân tích các khái niệm, bản chất của đầu tư xây dựng, 4 đặc thù của sản phẩm xây dựng, và chức năng quản lý nhà nước.
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật (Legal Analysis): Rà soát, đối chiếu hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng (các Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành năm 1996, 1999, 2000, Luật Xây dựng năm 2003, Bộ luật Dân sự 1995...).
- Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law): Tham chiếu pháp luật và mô hình quản lý xây dựng của một số quốc gia như Trung Quốc (Luật Xây dựng 1998, Luật Gọi đấu thầu 1999), Nhật Bản (Luật Xây dựng 2001), Hàn Quốc (Luật Xây dựng công trình 2001), Liên bang Nga (Luật Hành nghề kiến trúc 1999, Luật Xây dựng đô thị 1998) và các quy chuẩn quốc tế của Hiệp hội Quốc tế các Kỹ sư Tư vấn (FIDIC), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (IDB).
- Phương pháp thống kê mô tả và tổng kết thực tiễn: Thu thập số liệu thứ cấp về cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ lệ các hình thức chọn thầu giai đoạn 1998 - 2000, các kết luận thanh tra thực tế (Chương trình 135, các vụ sai phạm tại dự án cấp thoát nước TP. Hồ Chí Minh, vụ án kinh tế tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam - PetroVietnam).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Những vấn đề lý luận về đầu tư xây dựng và quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng
Chương 1 làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, vai trò của đầu tư xây dựng và hệ thống hóa lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực này.
1. Đầu tư xây dựng trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân:
Luận án xác định đầu tư xây dựng là tổng hợp các hoạt động kinh tế - kỹ thuật (lập dự án, tư vấn, khảo sát, thiết kế, quản lý dự án, thi công xây lắp) do các chủ thể có đủ điều kiện năng lực thực hiện nhằm tạo ra sản phẩm xây dựng và công trình hoàn thành. Hoạt động này có 3 đặc trưng cốt lõi: chủ thể phải có chứng nhận năng lực chuyên môn; là hình thức đầu tư phát triển trực tiếp; kết quả cuối cùng là công trình hoàn thành liên kết định vị với đất đai.
Tác giả luận giải 4 đặc thù của đầu tư xây dựng có tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước:
- Phụ thuộc lớn vào tài nguyên khoáng sản: Sử dụng khối lượng lớn vật liệu truyền thống (cát, đá, sỏi, sắt, đất sét), dẫn đến chi phí xây dựng phụ thuộc vị trí địa lý. Nhà nước cần quy định đơn giá xây dựng theo từng địa phương và ban hành quy định bảo vệ tài nguyên, môi trường, quy hoạch đất đai.
- Không cho phép có phế phẩm: Do sản phẩm mang tính đơn chiếc, giá trị kinh tế lớn, thời hạn sử dụng dài (hàng chục năm), ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn cộng đồng. Công trình sai hỏng buộc phải phá dỡ, lãng phí lớn. Quản lý chất lượng bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc là nhiệm vụ trọng tâm.
- Quy mô lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể: Luận án phân loại 3 nhóm quan hệ xã hội phát sinh:
| Nhóm quan hệ |
Chủ thể tham gia |
Bản chất quan hệ |
| Nhóm 1 |
Cơ quan quản lý nhà nước $\leftrightarrow$ Các doanh nghiệp đầu tư xây dựng |
Quan hệ quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung, phân công, phân cấp và tuân thủ pháp luật. |
| Nhóm 2 |
Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án $\leftrightarrow$ Đơn vị tư vấn, thiết kế, nhà thầu xây lắp |
Quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh theo hợp đồng kinh tế. |
| Nhóm 3 |
Tổ chức tài chính, tín dụng, bảo hiểm $\leftrightarrow$ Doanh nghiệp đầu tư xây dựng |
Quan hệ kinh doanh, hỗ trợ vốn, bảo lãnh dự thầu/hợp đồng và giám sát tài chính. |
- Thời gian thực hiện kéo dài và chịu tác động trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh, thời tiết: Tạo ra rủi ro gián đoạn, phát sinh chi phí, biến động thị trường vật liệu theo mùa khô/mưa. Đòi hỏi Nhà nước phải ban hành cơ chế thanh toán theo đợt, quy định bảo hiểm bắt buộc và điều tiết thị trường vật liệu chủ lực (thép, xi măng) thông qua chính sách thuế.
2. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước vừa là chủ thể quản lý vĩ mô, vừa là chủ đầu tư lớn nhất (tổng chi ngân sách chiếm khoảng 20% GDP giai đoạn 1986 - 2000, trong đó chi đầu tư phát triển tăng bình quân trên 10%/năm). Công tác quản lý nhà nước chuyển dịch theo 4 hướng: tập trung quản lý vĩ mô; đẩy mạnh cải cách hành chính theo nguyên tắc "một cửa, một dấu"; phân cấp quản lý đầu tư cho địa phương và bộ ngành; sử dụng đồng bộ hệ thống công cụ:
- Đòn bẩy kinh tế: Chính sách giao đất, miễn giảm tiền sử dụng đất; hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển; chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu phôi thép/thiết bị.
- Công cụ kinh tế - kỹ thuật: Quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá xây dựng.
- Công cụ hành chính: Đăng ký kinh doanh ngành nghề có điều kiện, cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cấp giấy phép xây dựng, thanh tra và kiểm tra.
- Công cụ pháp luật: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thiết lập hành lang pháp lý phân định rõ quyền tự chủ của doanh nghiệp ("được làm những gì pháp luật không cấm") với chức năng quản lý vĩ mô của cơ quan công quyền.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
Chương 2 phân tích thực trạng thực thi các quy định pháp luật qua 5 nội dung quản lý cơ bản:
1. Quản lý nhà nước đối với các chủ thể hoạt động đầu tư xây dựng:
Phân tích vị trí pháp lý, quyền hạn và trách nhiệm của 4 nhóm chủ thể: Chủ đầu tư; Ban quản lý dự án (Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực); Doanh nghiệp xây dựng; Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng. Thực trạng chỉ ra sự lúng túng trong mô hình Ban quản lý dự án kiêm nhiệm, thiếu cán bộ có năng lực chuyên môn tại cấp huyện và cơ sở; việc xếp hạng doanh nghiệp và cấp chứng chỉ hành nghề cá nhân chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không đủ năng lực nhưng vẫn nhận thực hiện các dự án quy mô lớn.
2. Quản lý đấu thầu xây dựng:
Tổng hợp và đánh giá việc áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong 3 năm 1998 - 2000 (căn cứ Bảng 2.1 của luận án). Luận án chỉ ra nhiều bất cập:
- Tình trạng lạm dụng hình thức chỉ định thầu, hạn chế cạnh tranh công khai.
- Hiện tượng "thông thầu", dàn xếp giữa các nhà thầu và chủ đầu tư.
- Tình trạng nhà thầu bỏ giá thấp (bán phá giá) để trúng thầu bằng mọi giá, sau đó "bán thầu" hoặc đòi điều chỉnh tăng tổng dự toán trong quá trình thi công, gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng công trình.
3. Quản lý việc ký kết và thực hiện hợp đồng xây dựng:
Phân tích sơ đồ mô tả quan hệ hợp đồng xây dựng giữa các doanh nghiệp (Hình 2.1 của luận án). Hệ thống hóa các loại hợp đồng chủ yếu: Hợp đồng khoán gọn (trọn gói), Hợp đồng có điều chỉnh giá, Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị - thi công (EPC), Hợp đồng chìa khóa trao tay. Tồn tại thực tiễn bao gồm: nội dung hợp đồng sao chép sơ sài, thiếu các điều khoản chế tài phạt vi phạm rõ ràng; quy định về bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng không được tuân thủ nghiêm ngặt; cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng còn chậm chạp, thiếu tính khả thi.
4. Quản lý chất lượng công trình xây dựng:
Thực trạng quản lý chất lượng qua các khâu: khảo sát, thiết kế, thẩm định kỹ thuật, thi công xây lắp, nghiệm thu bàn giao và bảo hành công trình. Luận án nêu rõ tình trạng buông lỏng kiểm tra, tư vấn giám sát chưa thực hiện hết trách nhiệm hoặc thông đồng với nhà thầu thi công; hiện tượng bớt xén vật tư ("rút ruột công trình") dẫn đến nhiều công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi, dân dụng vừa đưa vào sử dụng đã nứt vỡ, xuống cấp nghiêm trọng.
5. Quản lý vốn đầu tư:
Đánh giá cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội (Bảng 2.2 của luận án) và cơ chế phân bổ, giải ngân, thanh quyết toán vốn đầu tư nhà nước. Các hạn chế lớn gồm: tình trạng đầu tư dàn trải, cắt khúc dự án; nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài; thất thoát và lãng phí vốn ngân sách. Luận án dẫn chứng các vụ việc thực tế như: kết luận thanh tra Chương trình 135 tại 23 tỉnh cho thấy sai phạm tràn lan từ khâu lập dự án đến nghiệm thu thanh toán; sai phạm nghiêm trọng gây lãng phí 221 tỷ đồng tại dự án cải tạo hệ thống cấp thoát nước TP. Hồ Chí Minh; và các sai phạm kinh tế trong hoạt động đầu tư xây dựng tại PetroVietnam.
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật đầu tư xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng
Chương 3 trình bày các căn cứ, định hướng và đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
1. Căn cứ và định hướng cơ bản:
- Thể chế hóa đầy đủ các Nghị quyết của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Xây dựng năm 2003 với Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp.
- Chuyển mạnh phương thức quản lý từ can thiệp hành chính trực tiếp sang quản lý bằng pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các đòn bẩy kinh tế.
2. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cụ thể:
- Hoàn thiện pháp luật về điều kiện hoạt động và quản lý chủ thể: Quy định tiêu chuẩn nghiêm ngặt về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề cá nhân (kiến trúc sư, kỹ sư định giá, kỹ sư giám sát); chuẩn hóa tiêu chí xếp hạng năng lực doanh nghiệp tư vấn và thi công; xây dựng hành lang pháp lý để chuyển đổi mô hình ban quản lý dự án kiêm nhiệm sang mô hình quản lý dự án chuyên nghiệp độc lập.
- Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu xây dựng: Áp dụng cơ chế "giá sàn" trong đấu thầu nhằm chống việc bỏ thầu dưới giá thành (phá giá); chuẩn hóa hồ sơ mời thầu và phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; cấm triệt để và quy định chế tài nghiêm khắc đối với hành vi chuyển nhượng thầu trái phép ("mua bán thầu").
- Hoàn thiện chế định hợp đồng xây dựng: Chuẩn hóa các mẫu hợp đồng xây dựng tiệm cận với thông lệ quốc tế (mẫu hợp đồng FIDIC); quy định rõ ràng nghĩa vụ cung cấp bảo lãnh ngân hàng (bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh bảo hành); hoàn thiện cơ chế phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại.
- Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng công trình: Quy định trách nhiệm cá nhân của chủ nhiệm thiết kế, kỹ sư giám sát và người đứng đầu đơn vị thi công; tăng cường thanh tra độc lập về chất lượng công trình; cập nhật và chuẩn hóa hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng quốc gia.
- Hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn đầu tư: Đổi mới quy trình thẩm định dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước; kiểm soát chặt chẽ tổng mức đầu tư và đơn giá dự toán; siết chặt kỷ cương trong cấp phát, giải ngân và quyết toán vốn công; xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.
- Xây dựng quy chế giám sát của nhân dân (giám sát cộng đồng): Thể chế hóa quyền và trách nhiệm của cộng đồng dân cư, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc giám sát chất lượng, tiến độ và sử dụng đất đai tại các công trình xây dựng công cộng tại địa phương.
- Hoàn thiện hệ thống chế tài và tổ chức thực thi pháp luật: Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng để bảo đảm tính răn đe; bổ sung các chế tài tước chứng chỉ hành nghề, cấm tham gia đấu thầu đối với các chủ thể vi phạm nghiêm trọng; đẩy mạnh cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa" trong cấp phép xây dựng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và xác lập cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng dưới góc độ kinh tế - pháp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Luận giải sâu sắc 4 đặc thù cơ bản của hoạt động đầu tư xây dựng và sản phẩm xây dựng (phụ thuộc khoáng sản, không chấp nhận phế phẩm, quy mô lớn - đa chủ thể, kéo dài theo mùa vụ), từ đó chứng minh tính tất yếu của việc phải thiết lập hệ thống công cụ quản lý pháp lý chuyên biệt.
- Phân định ranh giới giữa chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng, xác định bản chất công trình xây dựng là một "loại hàng hóa đặc biệt" cần được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về quy chuẩn và chất lượng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong giai đoạn 1998 - 2004, chỉ rõ các khiếm khuyết trong các quy định trước đó (như các Điều lệ, Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo Nghị định 42/CP, Nghị định 52/1999/NĐ-CP, Nghị định 12/2000/NĐ-CP).
- Nhận diện các hiện tượng tiêu cực thực tế: bán phá giá trong đấu thầu, thông thầu, chuyển nhượng thầu bất hợp pháp, ban quản lý dự án yếu kém, rút ruột công trình và thất thoát ngân sách qua các vụ án, vụ việc thanh tra cụ thể.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể, có giá trị ứng dụng trực tiếp vào quá trình xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng năm 2003, Luật Đấu thầu và hoàn thiện chế định hợp đồng xây dựng tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung đối tượng nghiên cứu chủ yếu vào các dự án, công trình đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn của Nhà nước (ngân sách, tín dụng nhà nước, vốn doanh nghiệp nhà nước), chưa đi sâu phân tích toàn diện các dự án đầu tư xây dựng 100% vốn tư nhân hoặc các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Luận án được hoàn thành tại thời điểm Luật Xây dựng 2003 mới ban hành, do đó chưa đánh giá được toàn bộ hiệu lực thực tế của văn bản luật này qua thời gian dài áp dụng.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá hiệu quả thực thi thực tế của Luật Xây dựng năm 2003 và hệ thống văn bản hướng dẫn dưới luật.
- Nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước đối với các hình thức hợp đồng hợp tác công - tư (như BOT, BTO, BT) và các dự án xây dựng quốc tế áp dụng toàn diện mẫu hợp đồng FIDIC.
- Hoàn thiện cơ chế trọng tài thương mại và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, cơ quan tư pháp và UBND các cấp): Luận án cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế pháp lý, xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng, đổi mới quy chế đấu thầu và hoàn thiện cơ chế giám sát cộng đồng.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Luật kinh tế, Luật hành chính và Quản lý xây dựng: Là tài liệu chuyên khảo về phương pháp tiếp cận kinh tế - pháp lý trong quản lý đầu tư công, tổng quan tài liệu và hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành.
- Đối với chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các doanh nghiệp xây dựng: Cung cấp thông tin hệ thống về khung pháp lý, quy trình quản lý dự án, trách nhiệm pháp lý trong đấu thầu, kỹ năng thương thảo hợp đồng và kiểm soát rủi ro chất lượng công trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn đặc thù của hoạt động đầu tư xây dựng tác động đến quản lý nhà nước được luận án chỉ ra là gì?
Luận án xác định 4 đặc thù gồm: (1) Phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên khoáng sản; (2) Không cho phép có phế phẩm trong sản xuất; (3) Hoạt động có quy mô lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp với sự tham gia của 3 nhóm quan hệ chủ thể; (4) Thời gian thực hiện kéo dài và chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh, thời tiết.
2. Tại sao luận án khẳng định trong đầu tư xây dựng "không cho phép có phế phẩm"?
Đặc điểm này xuất phát từ 3 nguyên nhân: Sản phẩm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc nhưng có giá trị kinh tế rất lớn; Sản phẩm có tác động to lớn và lâu dài đến an toàn cộng đồng và đời sống kinh tế - xã hội; Thời hạn sử dụng của công trình rất dài (hàng chục năm). Khi công trình bị hư hỏng, kém chất lượng thì phần lớn phải phá dỡ, khả năng tái sử dụng vật tư rất thấp, gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng.
3. Tác giả đề xuất giải pháp gì để ngăn chặn tình trạng bán phá giá và thông thầu trong đấu thầu xây dựng?
Tác giả đề xuất áp dụng cơ chế quy định "giá sàn" trong đấu thầu nhằm loại bỏ các hồ sơ dự thầu bỏ giá thấp bất hợp lý dưới giá thành thực tế; minh bạch hóa và chuẩn hóa tiêu chuẩn chấm thầu; tăng cường kiểm tra, cấm triệt để việc "bán thầu" và chuyển nhượng thầu trái phép sau khi trúng thầu.
4. Ba nhóm quan hệ chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng gồm những gì?
Gồm: (1) Nhóm quan hệ quản lý giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; (2) Nhóm quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh giữa chủ đầu tư/Ban quản lý dự án và các tổ chức tư vấn, nhà thầu xây lắp, nhà cung ứng thiết bị; (3) Nhóm quan hệ kinh doanh - hỗ trợ - giám sát giữa tổ chức tài chính tín dụng/bảo hiểm và các doanh nghiệp xây dựng.
5. Luận án phân định chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và quyền tự chủ của doanh nghiệp như thế nào?
Nhà nước tập trung thực hiện chức năng quản lý vĩ mô bằng pháp luật, quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật và các đòn bẩy kinh tế; không can thiệp vào hoạt động tác nghiệp sản xuất kinh doanh cụ thể. Doanh nghiệp giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế, được tự chủ hoạt động theo nguyên tắc "được làm những gì mà pháp luật không cấm" đi đôi với việc nâng cao chế độ chịu trách nhiệm pháp lý và bảo đảm chất lượng công trình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Hoàng Đức là một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện dưới góc độ kinh tế - pháp lý về công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng tại Việt Nam. Bằng việc làm rõ 4 đặc thù của sản phẩm xây dựng và đánh giá thực trạng thực thi pháp luật qua 5 nội dung trọng tâm (chủ thể, đấu thầu, hợp đồng, chất lượng và vốn đầu tư), luận án đã chỉ rõ những nguyên nhân thể chế dẫn đến thất thoát, lãng phí và suy giảm chất lượng công trình. Các giải pháp do luận án đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư xây dựng và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.