phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm có 3 chương, 11 mục và 189 trang. | CHUONG | | NHỮNG VAN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ DAU TU XÂY DUNG VA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TREN LĨNH VUC ĐẦU TƯ XÂY DUNG I. ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRONG SỰ PHÁT TRIEN NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1. Dau tư xây dựng và vai trò của dau tư xây dựng Từ xa xưa nhân loại đã biết cách tập hợp sức mạnh tập thể, kết hợp với các công cu lao động di là rất giản đơn để tạo dung nơi ăn chốn ở cho mình, để xây thành dap lũy chống lại sự xâm lang của kẻ thù.
Thời gian qua đi nhưng đã để lại cho muôn đời sau những công trình kiến trúc vi đại như Kim tự tháp, Vườn treo Babilon, Vạn lý trường thành. Đến thời đại ngày nay, đầu tư xây dựng đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng do tiếp nhận được những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ và đặc biệt do trí tuệ và khả năng tổ chức lao động của con người ngày càng ưu việt hơn. Đầu tư xây dựng hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp. Nhận thức rõ vai trò của đầu tư xây dựng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại, đồng thời với mong muốn hoàn thiện trình độ tổ chức, kỹ năng quản lý đầu tư xây dựng nhằm mục đích phát triển kinh tế, phục vụ đời sống con người cho nên nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý kinh tế và cả những người hoạt động thực tiễn trên khắp thế giới đã dày công nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đầu tư xây dựng.
Vì vậy, lý luận về kinh tế đầu tư xây dựng cũng phong phú như chính bản thân hoạt động đầu tư xây dựng trong nền kinh tế. Theo ý kiến của hai nhà nghiên cứu kinh tế người Mỹ là Harold Bierman, JR. va Seymour Smidt thì, "thuật ngữ đầu tư để chỉ việc huy động nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai"[20, tr. Tác giả Nick Renton, hiện là Chủ tịch hiệp hội luật thương mại của Australia, trong cuốn "Understanding - Investment - Property" lại dé cập phân tích khái niệm đầu tư dựa trên hai cơ sở đánh giá cơ bản khác nhau: "Đầu tư có thể được định nghĩa như là một hành động hy sinh (về kinh tế) trong sự kỳ vọng vào lợi ích tương lai.
Từ quan điểm của quốc gia, đầu tư có nghĩa là việc xây dựng các xí nghiệp, nhà máy, đường xá ., cùng với mức độ gia tăng thực tế về cổ phần do các đơn vị kinh doanh nắm giữ. Nhưng từ quan điểm cá nhân, đầu tư lại có nghĩa là sự mua sắm những tài sản riéng như cổ phiếu, trái phiếu. bất động sản. Trong một vài tình huống khác thì việc gửi tiền ở các ngân hàng và các hình thức tiết kiệm khác cũng được xem như một hình thức của đầu tu" [57, tr.
Từ góc độ nghiên cứu quản trị kinh doanh xây dựng, GS. Nguyễn Văn Chọn đã đề cập nhiều khái niệm phổ biến về đầu tư đồng thời cũng chỉ ra một khái niệm thường được sử dụng trong công tác phân tích dự án đầu tư: "dau tư, đó là một chuỗi hành động chi tiền tệ cho một mục đích nhất định và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi thu tiền tệ dé bảo đảm hoàn vốn và có lãi" [9, tr. Xâu chuỗi những định nghĩa, khái niệm tiêu biểu nêu trên có thể nhận thấy khái niệm "đầu tư” có nội hàm rất rộng, nó mang ý nghĩa của cả một quá trình gồm nhiều hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động xây dựng. Thuộc về phạm trù đầu tư có những hình thức kinh tế gắn liền với hoạt động xây dựng và cả những hình thức kinh tế không có hoạt động xây dựng chẳng hạn như: đầu tư tài chính, đầu tư vào các loại hàng hóa, tài sản có giá trị cao đang lưu thông trên thị trường (nhà, đất, vàng.
Vậy hoạt động xây dựng là gì? Điều 2 Luật Xây dụng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa định nghĩa về hoạt động xây dựng, đó là "hoạt động tạo dựng các loại công trình nhà cửa cùng các công trình phụ thuộc chúng và các hoạt động lắp dat đường dây, đường ống, thiết bị đồng bộ với chúng". Theo quy định tại Điểm 1.2 của Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam thì, hoạt động xây dựng là mọi hoạt động kỹ thuật liên quan đến xây lắp các công trình xây dựng với hai giai đoạn chính là quy hoạch xây dựng gồm: lập quy hoạch và quản lý LÔ xây dựng theo quy hoạch, và xây dựng công trình gồm: lập dự án đầu tư. khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp và bảo trì các công trình xây dựng. Khái niệm hoạt động xây dựng cũng được giải thích rõ tại Điều 3 Luật Xây dựng của Việt Nam: "Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến công trình xây dựng”.
Rõ ràng là, giữa đầu tư xây dựng có một mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc. Nếu đầu tư là cả một quá trình kinh tế thì xây dựng là một công đoạn của quá trình ấy; để tiến hành hoạt động xây dựng một công trình cần phải có sự chuẩn bị các điều kiện vật chất cần thiết trước và trong khi xây dựng hay nói một cách khác là cần đầu tư cho xây dựng công trình; hoạt động xây dựng là phương tiện nhằm chuyển những ý tưởng đầu tư thành tài sản vật chất (đối với dự án đầu tư trực tiếp). Có nhiều tiêu thức mà có thể dựa vào đó để phân loại các dạng đầu tư xây dựng khác nhau trên thực tế. Nếu căn cứ vào đặc tính kinh tế - kỹ thuật của công trình xây dựng có thé phân thành các loại sau đây: (i) Đầu tư xây dung công trình ha tầng; (ii) Dau tư xây dựng công trình công nghiệp; (iii) Đầu tư xây dung công trình dân dụng.
Nếu dựa trên mục đích sử dụng công trình có thể phân thành các loại sau đây: (i) Đầu tư xây dựng công trình phục vụ phát triển kinh tế; (ii) Đầu tư xây dung công trình van hóa - xã hội; (ili) Đầu tư xây dựng công trình phục vụ an ninh quốc phòng. Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể phân chia thành: (i) Đầu tư xây dựng một công trình mới; (ii) Đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp một công trình có sắn [54]. Từ những khái niệm cơ ban về đầu tu, từ mối quan hệ giữa đầu tư va hoạt động xây dựng có thể đi đến một khái niệm mang tính khái quát về đầu tư xây dựng như sau: đầu tư xây dựng là tổng hợp các hoạt động kinh tế - kỹ thuật bao gồm: lập du án đầu tu, tư vấn đầu tư, khảo sát, thiết kế, tư vấn quản lý dự án, thi công xây lắp. do các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư xây dựng trực tiếp thực hiện bằng tiền vốn, vật tư, thiết bị và nhân công trong một khoảng thời gian nhất định mà kết quả của nó là các sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng hoàn thành.
Qua khái niệm nói trên thì đầu tư xây dựng có các đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, chủ thể của đầu tư xây dựng là các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện, năng lực đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật. Tùy thuộc vào vai trò, vị trí của mỗi chủ thể trong hệ thống đầu tư xây dựng mà doanh nghiệp đó có thể là chủ đầu tư, đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế, nhà tư vấn quản lý dự án, nhà thầu xây lắp hay đơn vi cung cấp vật tư, thiết bi. Thứ hai, về mặt hình thức kinh tế thì đầu tư xây dựng là loại hình đầu tư phát triển, đầu tư trực tiếp do các chủ thể đầu tư xây dựng tiến hành bằng tiền vốn, thiết bị, nhân công của mình nhằm gia tăng giá trị tài sản phục vụ cho kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, tính hình thức này giúp phân biệt đầu tư xây dựng với các loại hình đầu tư gián tiếp khác mà điển hình là đầu tư tài chính.
trong đó có việc mua trái phiếu - một nguồn huy động vốn quan trọng phục vụ cho các dự án đầu tư phát triển hiện nay. Thứ ba, kết quả của đầu tư xây dựng là các sản phẩm xây dựng, công trình xây dựng hoàn thành. Tương ứng với mỗi hoạt động đầu tư xây dựng cụ thể sẽ cho kết quả là các sản phẩm xây dựng hay công trình xây dựng khác nhau, ví dụ: dự án đầu tư (với các hình thức báo cáo đầu tư, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi) là sản phẩm của hoạt động tư vấn đầu tư; số liệu khảo sát xây dựng là sản phẩm của hoạt động khảo sát xây dựng; thiết kế xây dựng (thiết kế sơ bộ, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công) là sản phẩm của hoạt động thiết kế xây dựng: công trình xây dựng hoàn thành (một cây cầu, một con đường, một nhà máy hay một căn nhà) là sản phẩm của hoạt động xây lắp. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách đầy đủ và toàn diện hơn thì công trình xây dựng hoàn thành chính là kết quả tổng hợp.
kết quả sau cùng của đầu tư xây dựng. Du án đầu tu, số liệu khảo sát xây dung, bản vẽ thiết kế xây dung, tất cả đều nhằm chuẩn bị cho hoạt động thi công xây lắp và là cơ sở, điều kiện để tạo nên một công trình xây dựng hoàn thành. Như giải thích tại khoản 2 Điều 3 của Luật Xây dựng, công trình xây dựng là "sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác”.
Đầu tư xây dựng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội.