Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE HOẠT DONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KET CẤU HẠ TANG GIAO THONG TẠI HÀ NOI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tang nói chung và kết cau hạ tang giao thông nói riêng là một đề tài thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã được đề cập trong rất nhiều tai liệu từ các tạp chí nghiên cứu khoa học, các bài báo, nghiên cứu hay các luận văn, luận án. Cùng với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước các đề tài nghiên cứu lại tập trung vào từng khía cạnh và tam quan trọng trong từng giai đoạn, cụ thé: HĐND thành phố Hà Nội (2011), Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 15/7/2011 về phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015, tam nhìn 2020 đề cập đến chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 trong đó cũng nhắn mạnh phát triển đồng bộ, hiện đại hệ thống kết cau hạ tang đô thi nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật khung. Tăng tỷ lệ đất dành cho giao thông trên diện tích tự nhiên bình quân 0,8-1 1%/năm, đến năm 2015 đạt khoảng 11-12%.
Luận văn “Dau tu phát triển kết cau hạ tang giao thông vận tải đường bộ bằng nguồn von trong nước ở Việt Nam: thực trạng và giải. pháp ” của tac giả Nguyễn Quang Hiệp, Đại học Kinh tế Quốc dân Phân tích thực trạng đầu tư phát triển kết cau ha tang giao thông vận tải đường bộ giai đoạn 2004- 2008 (chủ yếu tập trung vào nguồn vốn trong nước), đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường bộ. Luận văn đã nhân mạnh đên những hạn chê như việc triên khai đông bộ, minh bạch nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển kết cấu ha tầng giao thông vận tải đường bộ ở Việt Nam dẫn tới vốn đầu tư lớn mà chất lượng chưa thực sự phản ánh đúng. Tác giả Phạm Thị Túy với nghiên cứu “Tác động của việc phát triển kết cấu hạ tầng đối với giảm nghèo” trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 332, thang I đã phát hiện ra 6 tác động quan trọng của kết cau hạ tầng là: Thứ nhất, KCHT phát triển mở ra khả năng thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế xã hội Thứ hai, KCHT phát triển đồng bộ hiện đại là điều kiện dé phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan tỏa lôi kéo các vùng liền kề phát triển Ba là, KCHT phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng cao điều kiều kiện sống của hộ.
Bồn là, phát triên KCHT thực sự có ích cho người nghèo và góp phần vào việc gitt gìn môi trường Năm là, đầu tư cho KCHT, nhất là hạ tầng giao thông đem đến tác động cao nhất đối với giảm nghèo Sáu là, phát triển KCHT tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khỏe cho người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đăng về mặt xã hội cho người nghèo Tác giả Nguyễn Quang Vinh nghiên cứu “Đồi mới quản ly nhà nước trong lĩnh vực kết câu hạ tang” đề cập các van dé chung về KCHT và QLNN đối với lĩnh vực này. Thông qua đó, những vấn đề QLNN đối với KCHT nói chung được nghiên cứu ở đây, cũng có thể là những tham khảo có ích trong nghiên cứu của luận văn này. Như vậy, sau khi nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan thì có thé khang định răng dé tài đầu tư kết cau hạ tang giao thông đã có nhiều tác giả đề cập đến. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò và tầm quan trọng của đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nói chung và kết cấu hạ tầng giao thông nói riêng tại Việt Nam chứ chưa nghiên cứu sâu trên từng vùng cụ thể đặc biệt là trung tâm kinh tế chính trị của cả nước trong giai đoạn đang phát triển và hòa nhập như hiện nay.
Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông 1. Khái niệm kết cau hạ tang giao thông “Kết cấu ha tang” (Infractructura) là một bộ phan đặc thù của cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân gan với một dia bàn nhất định, chúng có chức năng nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung, cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục, đồng thời cũng thoả mãn những nhu cầu nhiều mặt của đời sống xã hội (như đi lại, ăn ở, chữa bệnh,.) Theo cách phân loại phô biến hiện nay, KCHT có hai loại: KCHT kỹ thuật và KCHT xã hội. Là một bộ phận của KCHTKT, KCHTGT là hệ thống những công trình giao thông được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc di chuyên, đón trả khách và vận chuyền hàng hóa, dịch cụ của các loại phương tiện giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn. Kết cau hạ tang giao thông thường được xem xét theo hệ thống, có nghĩa là hệ thống giao thông có sự kết nối với nhau giữa đường bộ với đường thủy, đường hàng không, đường sắt và giữa các loại đường với nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, có tác động tương hỗ lẫn nhau.
Kết cau hạ tang giao thông được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: Theo phương tiện vận tải, KCHTGT được phân thành: KCHTGIT đường bộ, KCHTGT đường sắt, KCHTGT đường thủy, KCHTGT đường biển, KCHTGT đường hàng không. Theo cấp quản lý, KCHTGT được phân thành: KCHTGT quốc gia, KCHTGT địa phương. Việc phát trién KCHTGT chính là tạo ra điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, để có KCHTGT hiện đại, cần có nhiều vốn và phải biết sử dụng nguồn vốn đó một cách có hiệu quả, trong đó vốn NSNN là một nguồn vốn chủ lực.
Vì vậy, việc quan tâm đến nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng KCHTGT là điều rất thiết thực đối với cả nước nói chung và các địa phương nói riêng. FT Hệ thống giao thông, bến bãi Hệ thống công trình cấp điện KCHT FT] KY L—] THUAT Hệ thống công trình bưu chính, viễn thông F—† Hệ thống cấp nước sạch và thoát nước thai F | Nhàở KCHT R XÃ [† Giáo dục, y tê HOI Văn hóa, giải trí, thé duc thé thao |__| Công viên, cây xanh, chiếu sáng Hình 1. Các bộ phận chính của hệ thống KCHT 1. Khải niệm hoạt động dau tư xây dựng kết cấu hạ tang giao thong 1.
Khải niệm hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư ( gọi tắt là đầu tư) theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại dé tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thé là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn dau tu. Trong các kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất, tai sản trí tuệ, nguồn nhân lực tăng thêm.
Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật.của người dân). Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng dé đạt được kết quả đó. Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có dé làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ dé cải thiện mức sống của dân cư hoặc dé duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có.
Khái niệm và đặc điểm của hoạt động dau tư xây dựng kết cấu ha tang giao thông Khái niệm hoạt động dau tư xây dựng kết cấu hạ tang giao thông Từ việc phân tích khái niệm đầu tư ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm đầu tư xây dựng kết cau hạ tang giao thông như sau: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông là hình thức cấp vốn cho việc khôi phục, nâng cấp hoặc xây dựng mới các công trình giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải và giao lưu đi lại của nhân dân. Như vậy, dau tư xây dựng hạ tang giao thông là một hoạt động dau tư phát triển của nhà nước, của các đơn vị kinh tế hoặc của các địa phương vào các công trình hoặc hạng mục công trình thuộc lĩnh vực giao thông. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông là loại hình đầu tư cơ bản với đặc thù là một ngành sản xuất độc lập và đặc biệt bao gồm các hình thức cụ thể như: làm mới, làm lại, mở rộng, khôi phục và sửa chữa lớn các công trình đường bộ. Đặc điểm của đâu tư xây dung KCHTGT Hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT có nhiều đặc điểm chung như bat kỳ hoạt động đầu tư nào khác, song bên cạnh đó còn có những đặc điểm riêng biệt, chuyên sâu chỉ có trong loại hình đầu tư này.
Đầu tư vào KCHTGT cần khối lượng vốn lớn, chủ yếu là từ vốn ngân sách nhà nước ( vốn ngân sách thường chiếm từ 60 - 70% tổng vốn dau tư ). Do các công trình hạ tầng giao thông vận tải thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian xây dựng lâu, hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cá nhân. Bên cạnh đó các công trình giao thông phục vụ cho nhu cầu đi lại của toàn xã hội, được mọi thành phần kinh tế tham gia khai thác một cách triệt để, khi hư hỏng lại ít ai quan tâm đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng dé duy trì tuổi tho cho chúng.