PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề án Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động, thực vật và con người trên trái đất, là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt, là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế.
Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Kim Bôi là huyện miền núi nằm ở phía Đông tỉnh Hoà Bình, tổng diện tích tự nhiên là 55.116,24 ha, trong đó đất nông nghiệp 48.367,4 ha chiếm 87,7%, bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp chiếm 27%; đất lâm nghiệp chiếm 73%. Tuy có diện tích tương đối lớn nhưng địa hình phức tạp và chủ yếu là đồi núi (Chi cục Thống kê huyện Kim Bôi năm 2022). Kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào phát triển kinh tế nông nghiệp; nông nghiệp có vai trò trọng tâm then chốt đối với sự phát triển của toàn huyện.
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp của huyện đã đạt được những kết quả. Nhưng công tác quản lý nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện còn có hạn chế, đó là: Do kế hoạch sử dụng đất của huyện được lập cho một năm nên chỉ phản ánh được nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực và của các xã, thị trấn trong năm kế hoạch mà không đảm bảo được tính khả thi của các dự án đăng ký thực hiện do không thể chủ động nắm bắt được khả năng về vốn của chủ đầu tư, đặc biệt là những dự án có nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước; dẫn đến tính khả thi của phương án kế hoạch sử dụng đất chưa cao. Nhiều công trình, dự án đăng ký thực hiện nhưng do không có vốn hoặc chậm làm thủ tục nên phải chuyển sang thực hiện năm sau; Việc tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan đến sử dụng đất chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ; Việc lập dự án đầu tư, lập phương án thu hồi, đền bù, giải phóng mặt bằng vẫn còn những tồn tại nhất định, dẫn tới thời gian triển khai các dự án phải kéo dài, làm bỏ lỡ cơ hội sản xuất, kinh 2 doanh của các nhà đầu tư. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” để nghiên cứu.
Mục tiêu của đề án 2. Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện nghiên cứu trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. - Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình thời gian tới. Đối tượng và phạm vi đề án 3. Đối tượng nghiên cứu của đề án Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Phạm vi nghiên cứu của đề án 3. Về nội dung Do giới hạn về thời gian, Đề án chỉ tập trung nghiên cứu 6 nội dung về công tác QLNN đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, gồm: (i) Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp; (ii) Quản lý việc giao đất nông nghiệp, cho thuê đất nông nghiệp, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp; 3 (iii) Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất nông nghiệp; (iv) Xây dựng hệ thống thông tin đất nông nghiệp; (v) Quản lý tài chính về đất nông nghiệp và giá đất nông nghiệp; (vi) Thanh kiểm tra sử dụng đất nông nghiệp và giải quyết tranh chấp về đất đai. Về không gian Nghiên cứu thực tế về công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Về thời gian Thông tin thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2020 đến hết năm 2022; Thông tin sơ cấp được thu thập trong năm 2023.
Ý nghĩa của đề án - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp. - Góp phần cung cấp bộ thông tin về thực trạng công tác quản lý của nhà nước đối với đất nông nghiệp; Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Một số giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý của nhà nước đối với đất nông nghiệp huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về đất đai 1.
Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm về đất nông nghiệp Theo quy định tại Điều 10, Luật Đất đai 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại thành 3 nhóm riêng biệt, tương ứng với mục đích sử dụng chính đó là: Nhóm đất nông nghiệp; nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng (Quốc hội, 2013a). Theo quy định tại khoản 1, Điều 10, Luật Đất đai 2013: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm 8 loại: 1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; 2) Đất trồng cây lâu năm; 3) Đất rừng sản xuất; 4) Đất rừng phòng hộ; 5) Đất rừng đặc dụng; 6) Đất nuôi trồng thủy sản; 7) Đất làm muối; 8) Đất nông nghiệp khác (Quốc hội, 2013b). Như vậy có thể hiểu: Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
* Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất nông nghiệp, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất nông nghiệp, trong việc phân phối và phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất nông nghiệp. Vai trò của công tác quản lý nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp 1. Giúp nhà nước nắm được tổng thể và cơ cấu từng loại đất từ đó xây dựng chiến lược lâu dài về sử dụng đất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp gắn liền với đặc điểm của đất nông nghiệp (ĐNN) đó là tính giới hạn, tính cố định, tính không thể thay thế trong khi đó lịch sử sử dụng 5 đất cho thấy sự chuyển đổi ngày càng nhiều diện tích ĐNN sang các mục đích sử dụng khác như mục đích đất ở dân cư, đất xây dựng đô thị, KCN, đất an ninh quốc phòng, đất giao thông thủy lợi… Áp lực sử dụng đất ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, để duy trì an ninh lương thực cho toàn quốc gia thì đất nông nghiệp phải được quy hoạch trong một diện tích phù hợp (Nguyễn Ngọc Lưu, 2016).
Tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất nông nghiệp Trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công chức có thể lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân. Chế tài Nhà nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông nghiệp, đảm bảo công bằng. Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các vi phạm (Nguyễn Ngọc Lưu, 2016). Giúp nhà nước phát hiện ra những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm Thông qua việc giám sát, kiểm tra quản lý và sử dụng đất đai, cơ quan quản lý sẽ nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất.
Từ đó phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm, kịp thời sửa chưa những sai sót gây ách tắc trong quá trình thực hiện (Nguyễn Ngọc Lưu, 2016). Nội dung công tác quản lý nhà nước đối với đất đai 1. Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện Luật đất đai năm 2013 được ban hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43, ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, hay Nghị định số 35, ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Đây là những văn bản có tính pháp lý, quy định cụ thể, chi tiết đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng, từ đó các cơ quan chức năng như tỉnh, huyện, xã căn cứ áp dụng, triển khai tới cán bộ, nhân dân thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích cho người dân.