mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục bảng, biểu, mô hình, sơ đồ, luận văn đƣợc kết cấu làm bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với cụm công nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với CCN trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 4. Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với các CCN trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CỤM CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề xây dựng và phát triển KCN ở các mức độ và nội dung khác nhau về cả mặt lý luận và thực tiễn.
Ngoài ra đã có một số nghiên cứu về cụm công nghiệp, tuy nhiên chỉ một số ít đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nhà nƣớc đối với cụm công nghiệp trên địa bàn một địa phƣơng cụ thể. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: Lê Tuyển Cử với luận án Tiến sĩ (2003) “Những biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với khu công nghiệp ở Việt Nam” đi sâu nghiên cứu hiện trạng phát triển các KCN ở Hà Nội; đánh giá ƣu, khuyết điểm, nguyên nhân và phƣơng hƣớng cải tạo; xác lập cơ sở khoa học ảnh hƣởng quyết định đến việc phát triển cải tạo các KCN ở Hà Nội; đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các KCN ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2010 bao gồm các vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc, hoàn thiện hệ thống thể chế KCN cũng nhƣ tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nƣớc các KCN [2]. Nguyễn Xuân Hinh, 2003 đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN Việt Nam và đề xuất các giải pháp về quy hoạch xây dựng nhằm phát triển các KCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [10]. Trần Ngọc Hƣng, 2004 đã đã đƣa một loạt các giải pháp hoàn thiện và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, trong đó có các KCN quy mô nhỏ , các CCN, KCN và KCX [12].
Bài báo nghiên 5 cứu một mô hình KCN cụ thể của Việt Nam, đó là KCN dệt may. Tác giả đã giới thiệu các khái niệm khác nhau về KCN và chỉ rõ lợi ích của tổ chức sản xuất theo lãnh thổ. Theo tác giả KCN của Việt Nam mang lại 4 lợi ích cơ bản: Các doanh nghiệp trong KCN có cơ hội để tăng năng suất thông qua việc tận dụng lợi thế bố trí gần nhau về mặt địa lý; ii) Việc bố trí gần nhau về mặt địa lý của nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành hay một lĩnh vực khuyến khích sự sáng tạo và cải tiến; iii) Việc tham gia vào KCN tạo sự nhận biết của cộng đồng đối với một tập hợp các doanh nghiệp trong KCN; iv) Việc tham gia vào KCN làm cho các doanh nghiệp nhận đƣợc hỗ trợ của Chính phủ. Bài viết của Lê Thế Giới về “Tiếp cận lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam” (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2009) [8] đã bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp và lý thuyết hệ sinh thái ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phƣơng.
Tác giả cho rằng chính sách CCN có quan hệ với chính sách phát triển vùng do chính sách CCN tập trung sự hỗ trợ vào mạng lƣới hơn là vào các doanh nghiệp riêng lẻ. Bài viết “Hiệu ứng Canon và gợi ý chính sách phát triển cụm công nghiệp tại Hà Nội” (Nguyễn Xuân Thúy và Trƣơng Thị Nam Thắng, 2010) [17] đã tập hợp một số khái niệm, các chính sách phát triển cụm công nghiệp khác nhau để đề xuất gợi ý chính sách phát triển cụm công nghiệp phù hợp với bối cảnh của Hà Nội. Bài viết “Phát triển cụm công nghiệp làng nghề: Từ thực tiễn ở các nƣớc tới Việt Nam” của Vũ Hoàng Nam [14] tại Hội thảo khoa học phát triển cụm ngành công nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó có đề cập tới sự phát triển và những khó khăn mà các CCN làng nghề ở Việt Nam đang gặp phải và phân tích tác động của chƣơng trình hỗ trợ tới sự phát triển của các CCN làng nghề.
6 Trần Duy Đông [4] đã khái quát chính sách pháp luật hiện hành về KCN, KCX, KKT; những ƣu điểm và hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT; từ đó đề xuất định hƣớng chính sách phát triển KCN, KCX, KKT đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đặng Hùng với bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong KCN” [11] đã nghiên cứu, phân tích hiệu quả của việc quản lý nhà nƣớc các KCN dƣới góc độ sử dụng nguồn tài nguyên đất đai. Sau khi đƣa ra nhận xét về tình trạng còn quá nhiều KCN mới cho thuê đƣợc 10% đến 50% tổng diện tích có thể cho thuê, tác giả đã khuyến nghị giải pháp 5 điểm để nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại các KCN Việt Nam trong những năm tới. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu nhƣ: Khuất Thị Hồng Nhung (2013), Quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Dũng (2010), “Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội”.
Tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu về quản lý và phát triển KCX, KCN, CCN tại địa phƣơng và các vấn đề khác nhau. Các nghiên cứu nêu thực trạng về việc quản lý nhà nƣớc về các CCN, KCN, KCX và những hạn chế cần khắc phục từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó. Tuy nhiên, các nghiên cứu chƣa xem xét và tiếp cận một cách có hệ thống, chƣa tiếp cận đánh giá sâu sát, chặt chẽ về công tác quản lý nhà nƣớc về CCN trong giai đoạn phát triển hiện nay. Chính vì vậy đề tài: “Quản lý Nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng” của tác giả sẽ tiếp cận công tác quản lý nhà nƣớc đối với CCN ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Từ đó tác giả tìm ra những hạn chế và bất cập trong những khía cạnh đó, từ đó đƣa ra các giải pháp hữu hiệu nhất nhằm củng cố và hoàn thiện hơn công tác quản lý CCN trong điều kiện cụ thể của tỉnh Hải Dƣơng. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với cụm công nghiệp 1. Khái niệm và phân loại cụm công nghiệp 1. Khái niệm cụm công nghiệp Cụm công nghiệp (tiếng Anh là industrial cluster) trên thực tế đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Các nhà kinh tế học theo lý thuyết cổ điển nhƣ Marshall (1920), Weber (1929) cho rằng lý do các doanh nghiệp tập trung ở một khu vực địa lý là nhằm tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô do sự tập trung của lực lƣợng lao động, các yếu tố đầu vào, các dịch vụ chuyên biệt và để tận dụng sự lan tỏa của công nghệ. Các nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế mới nhƣ Krugman (1995), Venables (1996) lại cho rằng cấu trúc không gian của các hoạt động kinh tế đƣợc hình thành là do tác động của lực tập trung và lực phân tán. Lực tập trung dẫn tới sự quy tụ của các hoạt động kinh tế là do nguồn cung lao động và các yếu tố đầu vào dồi dào, sự lan tỏa của công nghệ. Potter (1990,2000) lại xem xét CCN từ góc độ cạnh tranh coi sự hình thành của các CCN là một chiến lƣợc kinh doanh nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của một khu vực trong môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu.
Quan điểm này của Potter đề cập nhiều tới năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực, theo đó các CCN là nơi tập trung của các mối liên kết quan trọng và là nơi có sự lan tỏa của công nghệ, kỹ năng, thông tin. Do những lợi thế này, các doanh nghiệp có năng suất cao hơn và khả năng đổi mới lớn hơn và do vậy có thể tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của mình. Theo Potter, CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty, các tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm một loạt các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ những ngƣời sản xuất các sản phẩm khác có liên quan.
Nhƣ vậy, CCN là một khái niệm không mới trên thế giới nhƣng ở Việt Nam, khái niệm CCN mới đƣợc đề cập đến trong những năm gần đây. Theo 8 Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành quy chế quản lý cụm công nghiệp, CCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh. Tóm lại, có thể hiểu cụm công nghiệp là một hệ thống sản xuất địa phƣơng, đƣợc đặc trƣng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lƣới các nhà cung cấp, mạng lƣới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ.
Phân loại cụm công nghiệp * Phân theo chức năng - CCNLN: là mô hình KCN tập trung quy mô nhỏ có diện tích ban đầu khoảng 3-5 ha, sau đó phát triển lên. Ban quản lý chủ yếu ở cấp huyện với nhiệm vụ chính là theo dõi quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng hạ tầng, việc cho thuê và sử dụng đất đai.