Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bản tỉnh Hải Dương.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc đối với các KCN trên cả nƣớc Quá trình hình thành và tác động của các KCN đến phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ là chủ đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố trong nhiều công trình khác nhau, không những về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Những nội dung này được khái quát qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: - Vũ Đại Thắng (2011), “Hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế” đã chỉ ra những tồn tại trong việc áp dụng cơ chế, chính sách vào mỗi địa phương, như hiệu ứng ồ ạt thành lập các KCN khi chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng; Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương về thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN; Các vấn đề về ô nhiễm môi trường , vấn đề quản lý. Nghiên cứu cũng đề xuất thay đổi cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo cho phát và bảo vệ môi trường các KCN trên phạm vi cả nước. - TS Lê Thị Thu Hương (2015), “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát triển các KCN nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế”, Ban Kinh tế Trung Ương.
Đề tài đã xây dựng khung lý thuyết về các chính sách nhằm nâng cao việc phát triển các KCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đánh giá thực trạng các cơ chế, chính sách phát triển các KCN ở Việt Nam trong những năm qua, đã chỉ ra được các thành tựu và hạn chế; từ những thực trạng đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện các thể chế, chính sách trong điều kiện đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. 6 - Ngô Sỹ Bích (2015) đã đề cập đến công tác xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, tình hình đầu tư xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư vào KCN định hướng và giải pháp phát triển các KCN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. - Luận án tiến sĩ kinh tế của TS.
Phạm Kim Thư (2016), “Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Đại học Mỏ- Địa chất. Luận án đã nghiên cứu và đưa ra các phương pháp quản lý phù hợp với các KCN, KCX trên địa bàn Hà Nội; đồng thời đưa ra các giải pháp như: Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đổi mới chính sách đào tạo; hoàn thiện công tác quản lý, thanh tra, kiểm soát nhằm cải thiện năng lực, hiệu quả của các cấp chính quyền “UBND thành phố Hà Nội và Ban Quản lý khu công nghiệp) để Thành phố Hà Nội đi đầu trong việc phát triển kinh tế công nghiệp.2 Những nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng Nguyễn Văn Hạnh (2017), “Quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, Ban Quản lý các KCN tỉnh Hải Dương. Tác giả đã khái quát được từ thực tế về tổ chức bộ máy cơ quan được kiện toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao qua từng thời kỳ, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn Tỉnh. Chỉ ra hạn chế như: việc sắp xếp, bố trí cơ cấu bộ máy của Ban Quản lý đang bộc lộ một số bất cập; với số lượng dự án đầu tư vào các KCN ngày càng nhiều, cùng với yêu cầu đẩy mạnh công tác hậu kiểm, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, quản lý xây dựng ngày càng phức tạp, đòi hỏi cần tiếp tục bổ sung lực lượng công chức có chuyên môn về lĩnh vực này.
Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp nhằm kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chuyên môn đáp ứng yêu cầu công việc; nâng cao hiệu quả cơ chế giám sát của nhân dân, doanh nghiệp đối với bộ máy quản lý. 7 Đào Thị Hồng Lam (2007) “Thực trạng và giải pháp phát triển khu công nghiệp ở Hải Dương”. Luận văn thạc sĩ Kinh Tế Chính Trị. Tác giả đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng khu công nghiệp tại tỉnh Hải Dương, làm rõ thực trạng và hạn chế trong hoạt động đầu tư tại các khu công nghiệp từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc quản lý tại các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương.
Như vậy có khá nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề quản lý nhà nước tại các khu công nghiệp, tuy nhiên lại không có công trình nào nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương. Trên cơ sở tổng quan các tài liệu nghiên cứu trên phạm vi trên cả nước và tại tỉnh Hải Dương, để nâng cao công tác quản lý nhà nước tại các KCN trên địa bàn tỉnh thì việc đánh giá thực trạng về công tác quản lý nhà nước hiện nay của tỉnh cần phải phân tích rõ từ thực trạng, đánh giá khách quan, làm cơ sở để định hướng, đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu tiên tập trung có tính thực tiễn cao hơn, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH của tỉnh nói riêng và góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới. Vì vậy, đề tài luận văn dự kiến tập trung làm phân tích, làm rõ thực trạng quản lý nhà nước tại KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020, đánh giá đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý của các cấp chính quyền tại KCN.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp 8 1.1 Khái quát về khu công nghiệp Khu công nghiệp được hình thành ở các nước tư bản có công nghiệp phát triển (Anh, Mỹ…) vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau đó mở rộng sang các nước công nghiệp mới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… Đến nay, các KCN được phân bố chủ yếu tại các nước Châu Á và Châu Phi. Ởcác quốc gia, tên gọi của KCN thường gắn với mục tiêu hoạt động của chính KCN đó.
Các tên gọi thường được sử dụng gồm: Export Processing Zones, Business Park, Science and Research Park, High - tech Centers, Bio - Technology Park, Eco - Industrial Park, Industrial Zones, Industrial Cluster…. Ở Việt Nam, các loại hình KCN phổ biến gồm: KCN truyền thống, khu chế xuất, KCN hỗ trợ, KCN sinh thái, đặc khu kinh tế. Điều này thể hiện các quan niệm khác nhau về KCN và do đó, có nhiều định nghĩa, cách hiểu về KCN. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): “KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hoá và hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất”.
Tại Việt nam KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên (7/1959), miền Nam xây dựng KCN Biên Hòa (5/1963). Tuy nhiên, chỉ đến khi có Luật đầu tư nước ngoài năm (1986) khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra. Tại khoản 14 và 15 Điều 2 theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp. Đến năm 1997 theo Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36 / CP ngày 24 / 4 / 1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được nêu tại khoản 2 và 3 Điều 2 như sau : KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có ranh giới đại lý 9 xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ Tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Theo Quốc hội thông qua Luật Đầu Tư số 03/2022/QH15 sửa đổi, theo đó: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”. Trong Luận văn này, khái niệm KCN được hiểu theo quy định tại Điều 2, Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định về quản lý KCN và KKT”, theo đó: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do Chính phủ quy định”. Như vậy, cách hiểu về KCN theo quy định của Việt Nam gần với quan niệm của Liên Hợp Quốc do đều nhấn mạnh và làm rõ đặc trưng về kinh tế, phạm vi không gian và tính liên kết trong đầu tư. Tóm lại có thể hiểu khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.1 Các đặc điểm của các khu công nghiệp - Đặc điểm tự nhiên của khu công nghiệp: Khu công nghiệp thường được quy hoạch và xây dựng tại những nơi có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu hàng hóa với các trung tâm công nghiệp, trung tâm kinh tế lớn, hay gần cảng biển, sân bay, ….