Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong những năm qua, vấn đề nghiên cứu về phát triển y tế NCL, QLNN về y tế và QLNN đối với bệnh viện đã được đề cập khá nhiều trong các đề án, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Những nghiên cứu đó góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn cho QLNN đối với y tế nói chung, QLNN đối với y tế NCL nói riêng (trong đó có QLNN đối với bệnh viện NCL). Do đó, việc tiếp cận, đánh giá các nghiên cứu đã công bố có ý nghĩa quan trọng, giúp tác giả kế thừa những kết quả đã công bố, luận giải và hoàn thiện những vấn đề lý luận. Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu tổng quan sẽ giúp tác giả luận án xác định những khoảng trống chưa được nghiên cứu, đánh giá để xây dựng giả thiết khoa học, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Các nghiên cứu liên quan đến y tế ngoài công lập và Bệnh viện ngoài công lập 1. Nghiên cứu trên thế giới Xã hội hóa trong hoạt động y tế và cung ứng dịch vụ y tế là xu hướng phổ biển ở nhiều quốc gia, nhất là trong thập niên đầu thế kỷ XXI đến nay. Các nghiên cứu đã triển khai tiếp cận, phân tích và kết luận nhiều khía cạnh liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án, cụ thể: Nhóm tác giả Sima Berendes, Peter Heywood, Sandy Oliver, and Paul Garner [103] trong nghiên cứu Quality of Private and Public Ambulatory Health Care in Low and Middle Income Countries: Systematic Review of Comparative Studies - Chất lượng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại trú tư nhân và công cộng ở các nước thu nhập thấp và trung bình: Đánh giá hệ 12 thống các nghiên cứu so sánh, Published online 2011Apr 12 đã tiến hành nghiên cứu về vai trò của hoạt động y tế NCL trong cung ứng dịch vụ KCB. Để có cơ sở đánh giá, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại một số nước có thu nhập thấp và trung bình ở khu vực Nam Á, Châu Phi.
Kết quả khảo sát, phân tích cho thấy, y tế NCL là một trong những nhà cung cấp các DVYT chủ yếu cho người nghèo ở Nam Á với tỷ lệ 65%, trẻ em bị bệnh từ nhóm thu nhập nghèo nhất trên khắp 26 quốc gia Châu Phi là 45%. Cũng từ nghiên cứu này, nhóm tác giả đã cho thấy, ngoại trừ yếu tố về giá cả là khá đắt đỏ của dịch vụ y tế NCL thì y tế NCL có nhiều lợi thế như thủ tục hành chính đơn giản và sự phục vụ được nhanh chóng và chu đáo. Nhóm tác giả Sanjay Basu, Jason Andrews, Sandeep Kishore, Rajesh Panjabi, David Stuckler trong nghiên cứu Comparative Performance of Private and Public Healthcare Systems in Low- and Middle-Income Countries: A Systematic Review - So sánh hiệu quả hoạt động của hệ thống chăm sóc sức khỏe tư nhân và công cộng ở các nước thu nhập thấp và trung bình: Một đánh giá hệ thống, Published online 2012 June 19 [100] đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu để phân tích, so sánh hai hệ thống y tế công lập và y tế NCL ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chủ yếu ở một số quốc gia khu vực Châu Phi và Đông Nam Á. Theo đó, nghiên cứu cho thấy các dịch vụ KCB của khu vực y tế NCL ở các nước thu nhập thấp và trung bình được đánh giá hiệu quả hơn, có trách nhiệm hơn so với khu vực y tế công lập.
Ngược lại, các khu vực công thường được đánh giá công bằng hơn trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với y tế NCL. Từ những phân tích đó, nhóm tác giả đã đưa ra giải pháp nhằm phát huy tốt cả hai loại hình y tế công và tư trong chăm sóc sức khỏa nhân dân là tăng cường đẩy mạnh đối tác công - tư, phối kết hợp hoạt động giữa y tế công và tư để mang đến cho người bệnh những dịch vụ KCB có chất lượng và thuận tiện nhất. Bennett trong nghiên cứu Promoting the private sector: a review of developing country trend - Thúc đẩy khu vực tư nhân: Một đánh giá xu hướng của các nước đang phát triển, Health policy and planning [101] cũng đã đề cập đến việc thúc đẩy khu vực tư nhân trong chính sách và kế hoạch y tế thông qua đánh giá xu hướng của các nước đang phát triển. Tác giả đã phân tích nguyên nhân sự tăng trưởng mạnh mẽ của các cơ sở y tế NCL ở nhóm nước này và khẳng định, y tế NCL là một tồn tại tất yếu đối với các quốc gia đang phát triển do hạn chế về nguồn lực, vốn, ngân sách của khối y tế công.
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những đe dọa nghiêm trọng của phương thức tài chính y tế này tới tính công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân [101, tr 97]. Cutler, Jill Horwitz trong nghiên cứu Converting Hospitals from No t-for- Profit to For-Profit Status Why and What Effects?- Chuyển đổi bệnh viện từ phi lợi nhuận sang lợi nhuận: Tại sao và những ảnh hưởng gì?, University of Chicago Press [109] đã tiến hành đánh giá về hiệu quả của mô hình bệnh viện hoạt động vì lợi nhuận so với các bệnh viện phi lợi nhuận trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tài hai bệnh viện của Mỹ là: Wesley Medical Center in Wichita và Colombia/HealthOne Symtem in Denver, Colorado. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng không tìm thấy bằng chứng về việc các bệnh viện hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận giảm chất lượng và giảm bớt cơ hội tiếp cận DVYT của người nghèo, mặc dù thước đo tính hiệu quả vẫn chưa hoàn thiện [109, tr 45-90]. Theo đó, tác giả chỉ mới đề cập đến những tác động tích cực của việc mua bán sáp nhập và chuyển đổi mô hình bệnh viện từ hoạt động phi lợi nhuận sang mục tiêu lợi nhuận mà chưa đề cập đến những tác động tiêu cực của các vụ sáp nhập bệnh viện cũng như hạn chế của mô hình hoạt động vì lợi nhuận của các bệnh viện trên thực tế.
Nghiên cứu ở Việt Nam 14 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 1998, Sự phát triển của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ y tế trên cơ sở phân loại các cơ sở y tế NCL theo loại hình cung cấp dịch vụ, xác định các yếu tố ảnh hưởng đối với dịch vụ của bệnh viện NCL đã khẳng định rằng: các bệnh viện tư nhân ở nước ta mặc dù được luật cho phép hoạt động nhưng đến nay vẫn không phát triển vì thiếu cơ chế bảo vệ về pháp lý cho các hoạt động của bệnh viện tư; tỷ lệ đóng thuế cao, không có chính sách khuyến khích đầu tư đối với các dịch vụ y tế tư; thiếu chính sách khuyến khích vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp cho việc đầu tư các dịch vụ y tế; xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh giữa y tế công và y tế NCL thông qua việc quảng cáo không đúng với chất lượng thực tế. Từ đó, đề tài cũng đưa ra khuyến nghị cụ thể về việc cần thiết phải xác định vai trò và vị trí của bệnh viện NCL; bảo vệ về mặt pháp lý các hoạt động nghề nghiệp của khu vực y tế NCL; khuyến khích sự tham gia của các Hiệp hội chuyên môn trong việc đánh giá hoạt động của y tế NCL; niêm yết giá của các dịch vụ y tế NCL; xác định vai trò của y tế công trong việc thúc đấy sự phát triển y tế NCL; phát triển kỹ thuật y học và việc sử dụng hợp lý các loại hình dịch vụ [8]. Luận án Tiến sĩ Xã hội học của Trịnh Minh Hoan về đề tài Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu các trường hợp tại thành phố Đà Nẵng, bảo vệ năm 2004 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [38] đã phân tích thực trạng vai trò YTTN trong chăm sóc sức khoẻ hiện nay dưới góc nhìn xã hội học. Bên cạnh đó, tác giải đã đánh giá những tác nhân ảnh hưởng đến hoạt động của YTTN và dự báo xu hướng biến đổi của YTTN theo định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nghiên cứu của Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoài về Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt nam do NXB Thống kê, Hà Nội xuất bản năm 2005 [2, tr.56-70] mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về dịch vụ KCB của y tế NCL 15 nhưng nhóm tác giả đã chỉ ra tính tất yếu phải đổi mới dịch vụ công, trong đó có dịch vụ y tế - với tính chất là dịch vụ công, kiến nghị một số giải pháp, trong đó có việc đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ y tế, ngoài các cơ sở y tế công lập thì cần phát triển y tế NCL như là cách thức tạo ra sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng y tế tại các cơ sở công và thỏa mãn nhu cầu của người dân. Tác giả Nguyễn Hoài Nam trong nghiên cứu Phải xã hội hóa nền kinh tế mới phát triển, trang web http://vietbao.vn ngày 22/05/2008 đã đề cập đến vai trò bước đầu của y tế NCL trong xã hội, chỉ ra bằng chứng về hiệu quả mà y tế NCL mang lại ở các nước phát triển, khi số lượng bệnh viện công chỉ chiếm 1/5 trong tổng số bệnh viện quốc gia, còn lại là các bệnh viện NCL. Các bệnh viện NCL này thực sự hoạt động hiệu quả dưới sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ với đội ngũ thầy thuốc giỏi, được đào tạo bài bản, với hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ người bệnh và người thầy thuốc. Khu vực y tế NCL phát triển được dựa trên cơ sở y tế dịch vụ và y tế phục vụ [125].
Năm 2010, tổ chức Actionaid VietNam đã nghiên cứu và công bố báo cáo vấn đề Tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam [1]. Dưới góc độ của một báo cáo nghiên cứu thực tế, tổ chức Actionaid VietNam đã đưa ra một số đánh giá và cho rằng, khu vực y tế NCL đã có những đóng góp tích cực cho hoạt động chăm sóc sức khỏe người bệnh, nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, góp phần giảm thiểu quá tải bệnh viện cho các bệnh viện công…Tuy nhiên, bên canh những đóng góp nêu trên, y tế NCL còn những hạn chế liên quan tới vấn đề công bằng xã hội và chất lượng KCB tại các cơ sở y tế NCL.