Nâng cao quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề tại Phú Thọ - Luận văn

Nâng cao quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Phú Thọ: Giải pháp, chính sách mới, cập nhật tình hình và định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

138
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

3. Mục đích nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Những đóng góp mới của đề tài

6. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề

1.1.1. Khát quát về hoạt động đào tạo nghề

1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề

1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề

1.4. Các nhân tố ảnh hướng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại địa phương

1.5. Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề

1.5.1. Kinh nghiệm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Vĩnh Phúc

1.5.2. Kinh nghiệm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Nghệ An

1.5.3. Những bài học kinh nghiệm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động dào tạo nghề cho tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1. Thu thập thông tin sơ cấp

2.2.2. Thu thập thông tin thứ cấp

2.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin

2.4. Phương pháp phân tích thông tin

2.4.1. Phương pháp thống kê mô tả

2.4.2. Phương pháp thống kê so sánh

2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.5.1. Hệ thống chỉ tiêu phân tích hoạt động đào tạo nghề

2.5.2. Hệ thống chỉ tiêu phân tích/đánh giá nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Khái quát về Phú Thọ và hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ có ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề

3.1.2. Khái quát hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.2.1. Quy trình quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.2.2. Phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại Phú Thọ

3.2.4. Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

3.4. Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề ở Phú Thọ

3.4.1. Kết quả đạt được

3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TỈNH PHÚ THỌ

4.1. Định hướng và mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.1.1. Định hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.1.2. Mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện phương pháp và công cụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ

4.3. Kiến nghị đối với các bên có liên quan

4.3.1. Đối với Chính phủ và các Bộ/ban/ngành có liên quan

4.3.2. Đối với Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp

4.3.3. Đối với cơ sở đào tạo nghề

4.3.4. Đối với đơn vị sử dụng lao động

4.3.5. Đối với người học nghề

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Nghề Phú Thọ 2024

Chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đào tạo nghề có vai trò quan trọng. Tại Phú Thọ, có 52 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đào tạo trên 20.000 học sinh, sinh viên hàng năm. Sinh viên tốt nghiệp được doanh nghiệp tuyển dụng. Song, lực lượng này chưa đáp ứng được hết nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, nhất là kỹ năng mềm. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu ban hành cơ chế chính sách về liên kết đào tạo. Tuy nhiên, vẫn còn bất cập như đầu tư dàn trải, quản lý lỏng lẻo, hiệu quả chưa cao do yếu kém trong công tác quản lý nhà nước. Tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ”.

1.1. Vai trò quan trọng của đào tạo nghề tại Phú Thọ

Đào tạo nghề đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi lực lượng lao động có kỹ năng chuyên môn vững vàng, khả năng thích ứng nhanh chóng với công nghệ mới. Đào tạo nghề không chỉ giúp người lao động có việc làm ổn định, nâng cao thu nhập mà còn góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Cần nhấn mạnh rằng việc đầu tư vào đào tạo nghề là đầu tư cho tương lai, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của Phú Thọ.

1.2. Thực trạng và thách thức của quản lý nhà nước hiện nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Phú Thọ vẫn còn tồn tại một số hạn chế và thách thức. Đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung vào các ngành nghề mũi nhọn, có tiềm năng phát triển. Công tác quản lý còn lỏng lẻo, chưa theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng đào tạo chưa sát với nhu cầu thực tế. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn chưa cao. Để khắc phục những hạn chế này, cần có những giải pháp đồng bộ, hiệu quả, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và chất lượng đào tạo nghề.

II. Phân Tích Thực Trạng Quản Lý Đào Tạo Nghề Tại Phú Thọ

Nghiên cứu các công trình liên quan như: “Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam” (Đặng Danh Ánh, 2010), “Quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận” (Đỗ Thị Thanh Hiền, 2017),... nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu sâu về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại Phú Thọ. Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước; phân tích thực trạng; hệ thống hóa cơ sở lý luận. Đối tượng: Các biện pháp quản lý của cơ quan quản lý nhà nước. Phạm vi: Tỉnh Phú Thọ (2016-2018).

2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến nhiều khía cạnh của giáo dục nghề nghiệp, từ hướng nghiệp đến mô hình tự chủ. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại một địa phương cụ thể như Phú Thọ. Điều này cho thấy tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, góp phần bổ sung kiến thức và kinh nghiệm cho công tác quản lý đào tạo nghề tại địa phương. Bên cạnh đó, việc kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu trước đây sẽ giúp luận văn có cơ sở lý luận vững chắc và đưa ra những giải pháp phù hợp.

2.2. Mục tiêu đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể

Luận văn tập trung vào mục tiêu chính là đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại Phú Thọ. Để đạt được mục tiêu này, luận văn sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý hiện nay. Đồng thời, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp quản lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong tỉnh Phú Thọ, giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018.

III. Thách Thức Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Nghề Phú Thọ

Câu hỏi nghiên cứu: (1) Thực trạng quản lý nhà nước (2016-2018)? (2) Các nhân tố ảnh hưởng? (3) Khó khăn, thuận lợi? (4) Giải pháp? Phương pháp thu thập: Thông tin sơ cấp (điều tra, phỏng vấn trực tiếp cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, học viên), thông tin thứ cấp (sách báo, internet, báo cáo). Phương pháp xử lý: Tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh.

3.1. Các câu hỏi nghiên cứu then chốt cần làm rõ

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đặt ra một số câu hỏi then chốt cần làm rõ. Đó là: Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2016-2018 diễn ra như thế nào? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý này? Trong quá trình quản lý, đã gặp phải những khó khăn, thuận lợi gì? Và cuối cùng, giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước?

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin chi tiết

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp thu thập và xử lý thông tin. Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan như cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp và học viên. Thông tin thứ cấp được thu thập từ sách báo, internet, báo cáo và các nguồn tài liệu khác. Sau khi thu thập, thông tin được tổng hợp, phân tích bằng các phương pháp thống kê và so sánh để đưa ra những kết luận chính xác và khách quan.

IV. Đánh Giá Chi Tiết Hoạt Động Đào Tạo Nghề Tỉnh Phú Thọ

Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Quy mô đào tạo; Số lượng, cơ cấu lao động; Hệ thống chỉ tiêu đảm bảo chất lượng (cơ sở vật chất, giáo viên, chương trình); Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; Số lượng giấy chứng nhận, quyết định thu hồi; Kiểm định chất lượng.

4.1. Quy mô và cơ cấu đào tạo nghề hiện nay

Quy mô đào tạo nghề được đánh giá dựa trên số lượng học viên mà cơ sở đào tạo có thể đào tạo được hàng năm, chỉ tiêu đào tạo theo từng ngành nghề cụ thể và số lượng học viên tốt nghiệp. Cơ cấu đào tạo nghề được đánh giá dựa trên tỷ lệ phần trăm giữa số lượng lao động được đào tạo theo từng loại hình đào tạo hoặc từng nhóm ngành đào tạo trên tổng số lao động được đào tạo. Các chỉ tiêu này phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề của tỉnh Phú Thọ và sự phù hợp của cơ cấu đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động.

4.2. Đảm bảo chất lượng và tổ chức bộ máy quản lý

Chất lượng đào tạo nghề được đánh giá dựa trên cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở đào tạo, cơ cấu giáo viên đạt các yêu cầu về trình độ, văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, nghiệp vụ và chương trình, giáo trình, quá trình tổ chức hoạt động dạy và học tại đơn vị. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề được đánh giá dựa trên cấu trúc tổ chức bộ máy, số lượng, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện quản lý nhà nước. Các chỉ tiêu này phản ánh năng lực của hệ thống đào tạo nghề và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo nghề.

V. Kinh Nghiệm Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Nghề Vĩnh Phúc Nghệ An

Tham khảo kinh nghiệm từ Vĩnh Phúc (quy hoạch, đầu tư, chính sách, thanh kiểm tra, kiểm định chất lượng) và Nghệ An (xác định chiến lược, nhận thức, cơ chế chính sách, đào tạo nghề, xã hội hóa) để rút ra bài học cho Phú Thọ: Phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nghề theo chuyển đổi cơ cấu, thu hút vốn đầu tư, xuất khẩu lao động.

5.1. Bài học từ Vĩnh Phúc Quy hoạch và đảm bảo chất lượng

Vĩnh Phúc chú trọng quy hoạch hệ thống đào tạo nghề, đầu tư kinh phí nâng cấp cơ sở vật chất, có chính sách khuyến khích giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới nội dung chương trình giảng dạy, tăng cường công tác thanh kiểm tra và thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng. Những kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng của việc quy hoạch bài bản, đầu tư đúng mức và kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo nghề.

5.2. Kinh nghiệm từ Nghệ An Xã hội hóa và gắn kết với thị trường

Nghệ An xác định đào tạo nghề là một trong những nội dung chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, tập trung xây dựng các chương trình, đề án, chính sách đào tạo nghề, có cơ chế chính sách thông thoáng, khuyến khích thu hút các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp và đẩy mạnh xã hội hóa. Những kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng của việc gắn kết đào tạo nghề với nhu cầu của thị trường lao động và huy động sự tham gia của toàn xã hội.

VI. Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Nghề Phú Thọ

Dựa trên phân tích thực trạng và kinh nghiệm, cần: (1) Hoàn thiện quy trình quản lý nhà nước; (2) Hoàn thiện phương pháp, công cụ quản lý nhà nước; (3) Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước. Kiến nghị: Chính phủ, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, người học.

6.1. Hoàn thiện quy trình quản lý nhà nước tổng thể

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại Phú Thọ, cần hoàn thiện quy trình quản lý tổng thể, từ khâu xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện đến kiểm tra, giám sát và đánh giá. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả của quy trình quản lý.

6.2. Kiến nghị đối với các bên liên quan

Để thực hiện thành công các giải pháp, cần có sự chung tay của tất cả các bên liên quan. Chính phủ cần ban hành các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cần nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo cần đổi mới phương pháp giảng dạy, doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình đào tạo và người học cần chủ động học tập, nâng cao kỹ năng.

22/09/2025
Nâng cao công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề tại tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề 1. Khát quát về hoạt động đào tạo nghề 1.1 Khái niệm nghề Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề. Lương Văn Úc trong Giáo trình Tâm lý học lao động, NXB ĐH Kinh tế quốc dân: “Nghề là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.

Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng” [26]. Bên cạnh đó, theo GS.TS Nguyễn Thành Độ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền trong Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB ĐH Kinh tế quốc dân: “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” [10]. Danh mục về diễn giải khái niệm nghề có thể rất dài, nhưng tựu chung lại, nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong.

Chẳng hạn, do sự phát triển vũ bão của khoa học máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ… Bên cạnh đó, rất nhiều nghề đã đã mất đi như nghề trực tổng đài điện thoại tại các cơ quan để nối đến các máy lẻ đã mất đi khi công nghệ viễn thông phát triển. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Từ các cách hiểu trên cho thấy nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo.

Và dưới góc độ đào tạo, nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm nghề nghiệp và các phẩm chất khác. Muốn trở thành một nghề thì ít nhất cũng phải trải qua đào tạo, cho dù là đào tạo dài hạn, bài bản; hoặc hướng dẫn kèm cặp. Xuất phát từ quan niệm như vậy, tác giả phân loại nghề thành hai nhóm là nghề qua đào tạo và nghề xã hội. Nghề đào tạo là nghề mà muốn nắm vững nó, con người phải có trình độ văn hóa nhất định, được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và được nhận bằng hoặc chứng chỉ.

Các nghề được đào tạo được phân biệt với nhau qua các yêu cầu về nội dung chương trình, mức độ chuyên môn và thời gian cần thiết để đào tạo. Nghề xã hội là nghề được hình thành một cách tự phát theo nhu cầu của đời sống xã hội, thường được đào tạo với các chương trình đào tạo ngắn hạn, cũng có thể thực hiện thông qua hướng dẫn, kèm cặp hoặc truyền nghề. Trong hệ thống nghề đào tạo có hai dạng: đào tạo lao động kỹ thuật hệ thực hành và đào tạo lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm. Lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm bao gồm chủ yếu là lao động qua đào tạo ở cấp trình độ đại học, sau đại học, đào tạo thuộc hệ đào tạo nặng hơn về kiến thức hàn lâm, kiến thức lý thuyết và làm các công việc như: nghiên cứu khoa học, phân tích - thống kê kinh tế, giảng viên các trường đại học (không bao gồm các giảng viên kỹ thuật hệ thực hành), nhà quản lý, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau… Lao động kỹ thuật hệ thực hành là lao động đã được đào tạo qua các cấp trình độ nghề kỹ thuật (dạy nghề), trung cấp kỹ thuật, cao đẳng kỹ thuật thực hành, đại học kỹ thuật thực hành, sau đại học kỹ thuật thực hành.

Hệ thống đào tạo này thực hiện việc đào tạo các chuyên ngành về kỹ thuật, công nghệ, nghiệp vụ nhưng đào tạo nặng hơn về thực hành. Lao động này làm các công việc như: kỹ sư công nghệ, kỹ sư kinh tế, kỹ thuật viên, kỹ sư chỉ đạo sản xuất, công nhân kỹ thuật. Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nghề trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 bao gồm công nhân kỹ thuật được đào tạo chính quy tại các trường, lớp dạy nghề; nhân viên nghiệp vụ và phổ cập nghề cho người lao động.2 Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. Đào tạo là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển đến công việc mới trong một thời gian thích hợp.

Qua quá trình đào tạo sẽ mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Luật Giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2014 đưa ra khái niệm Dạy (đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên. Mục tiêu đào tạo nghề là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.3 Đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề Đào tạo nghề là hình thành nhân cách người lao động mới.

Khác với giáo dục phổ thông, đào tạo nghề là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để có thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất. Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà hoạt động dạy nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất. Đặc thù cơ bản của đào tạo nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất.

Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học. Để nắm vững được nội dung khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa học đã hình thành ra nội dung này. Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị luyện tập). Nội dung lao động của người công nhân và nội dung, phương pháp đào tạo nghề trước hết phụ thuộc vào cơ sở kỹ thuật của sản xuất và thay đổi cùng với sự phát triển của nó.

Đào tạo nghề là dạy thực hành sản xuất. Nói đến đào tạo nghề người ta thường nói đến dạy lý thuyết và dạy thực hành sản xuất. Đó là 2 mặt của một quá trình thống nhất không thể tách rời nhau, nhưng dạy thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo, chính nó là bộ phận quan trọng nhất của dạy nghề, không nắm vững điều đó sẽ đơn giản hoá việc dạy nghề. Thời gian dạy thực hành sản xuất thường chiếm 2/3 thời gian đào tạo.

Đối với những nghề đòi hỏi các thành phẩm trí tuệ nhiều hơn như thợ sửa chữa các loại, thời gian thực hành sản xuất khoảng 60%. Đào tạo tại nơi sản xuất và tại Trung tâm Dạy nghề thời gian thực hành là chủ yếu (80-90%). Mỗi nghề được xây dựng theo một cấu trúc khoa học bao gồm: mục tiêu đào tạo, đặc điểm nghề, nội dung lao động phản ánh đúng trình độ sản xuất hiện tại và danh mục nghề đào tạo quy định. Phương pháp đào tạo nghề.

Trong khi dạy lý thuyết nghề người ta sử dụng những phương pháp như dạy phổ thông: phương pháp thuyết trình: thầy nói - trò nghe; phương pháp đàm thoại: thầy hỏi - trò đáp; phương pháp trực quan: thầy chỉ - trò xem. Nếu nói theo nguồn gốc tri thức thì có các phương pháp: Diễn đạt bằng lời (thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề); phương pháp trực quan (giới thiệu, quan sát thí nghiệm). Các phương pháp này phần lớn chỉ có tác dụng bên ngoài chứ chưa kính thích được tính tích cực bên trong của người học. Để điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành và phát huy năng lực độc lập sáng tạo của người học cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với bản chất của quá trình điều khiển, với quy luật khách quan của quá trình đó.

Đào tạo nghề nêu vấn đề đáp ứng được yêu cầu này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Vai trò của hoạt động đào tạo nghề trong nền kinh tế quốc dân Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sự phát triển nền kinh tế đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ