Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát và Tổng quan về Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quản lý Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn 15 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN 1. Cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát 1. Khái niệm quản lý văn hóa * Khái niệm quản lý Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù quy mô lớn hay nhỏ, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp. Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm.
Từ góc độ hoạt động, quản lý được hiểu là sự tác động chỉ huy và điều khiển các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản lý. Cách tiếp cận này nhìn nhận những hoạt động cơ bản của quản lý. Thực chất của quản lý là quá trình chỉ huy điều khiển người khác để để đạt được mục tiêu. Từ góc độ chính trị pháp lý, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao động.
Hoạt động quản lý là lao động của con người. Tuy nhiên, đây là một hoạt động lao động mang tính chất đặc biệt trong đó nhà quản lý sử dụng những tri thức, sự sáng tạo nhằm tác động lên đối tượng quản lý. Từ mối quan hệ giữa các quá trình trong quản lý, thì quản lý được hiểu là hoạt động bao gồm 2 quá trình đan xen nhau một cách chặt chẽ là 16 duy trì và phát triển. Quá trình đầu tiên trong quản lý là quá trình duy trì để đảm bảo ổn định trật tự các hoạt động trong tổ chức đồng thời cũng phải tiến hành các hoạt động của tổ chức để phát triển tổ chức theo một hướng cao hơn.
Hai quá trình duy trì và phát triển này đan xen lồng ghép vào nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động của tổ chức vừa mang tính ổn định đồng thời đảm bảo cho sự phát triển đi lên [43, tr24-26]. Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra. Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của các nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chức về quản lý là một khoa học [16, tr13]. Vậy có thể hiểu quản lý là sự điều khiển chiến thuật, là quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có, thấy được, thấy đúng cái cần có.
Biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu đưa ra từ cái nhìn hiện thực lên cái cần có. Quản lý trong xã hội chính là quản lý con người, ở đây chủ thể và khách thể quản lý là con người. Vì vậy trong quản lý xã hội nói chung và quản lý văn hóa nói riêng, phải quản lý trên nguyên tắc tôn trọng, định hướng tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển. Từ khái niệm quản lý, nhận thấy: 17 Quản lý là sự tác động có kế hoạch có khoa học chặt chẽ không phải là hoạt động ngẫu nhiên tuỳ tiện.
Chủ thể sẽ xây dựng các kế hoạch, tổ chức bộ máy nhân sự, thực hiện hoạt động lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát người thừa hành. Quản lý là phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Trong đó chủ thể là người đưa ra mệnh lệnh, đối tượng quản lý là người thực thi các mệnh lệnh. Hoạt động quản lý hướng đến đạt những mục tiêu đã được xác định.
Mục tiêu là cái định hướng cho hoạt động quản lý, là đích đến mà cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều hướng tới. Sự tác động trong quản lý được thể hiện thông qua các hoạt động như là chỉ huy, điều khiển, kiểm tra, giám sát. Quan hệ quản lý là quan hệ mang tính chất phục tùng mệnh lệnh, chứa đựng yếu tố quyền lực (quyền lực thuộc về chủ thể quản lý). Quản lý được cấu thành bởi 4 yếu tổ gồm: chủ thể, đối tượng, mục tiêu và môi trường quản lý, cụ thể: (1) Chủ thể quản lý: Là yếu tố tạo ra tác động quản lý trong mọi quá trình hoạt động.
Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý là người đưa ra mệnh lệnh quản lý, thực hiện hoạt động quản lý. Trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý sẽ sử dụng các công cụ, phương pháp quản lý để tác động lên đối tượng quản lý. (2) Đối tượng quản lý: Là thực thể tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
Đối tượng quản lý có thể là con người, giới vô sinh, giới sinh vật. (3) Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm trong tương lai được chủ thể quản lý đặt ra. Mục tiêu trong quản thể hiện hết sức đa dạng phong phú. Đó có thể là mục tiêu chung của tổ chức, 18 cũng có thể là các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu quản lý là sợi dây liên kết giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. (4) Môi trường quản lý: Là tập hợp những điều kiện ảnh hưởng và tác động đến hoạt động quản lý của tổ chức. Môi trường quản lý tồn tại hết sức đa dạng và phong phú (môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc tế). Nguyên tắc quản lý: 14 nguyên tắc của Fayol [44] Nguyên tắc 1: Chuyên môn hóa/ phân công hóa lao động: Sự phân bổ công việc và chuyên môn hóa từng bước làm trong một chu trình sẽ kéo theo sự chuyên môn hóa trong kỹ năng, thúc đẩy tính tập trung và hiệu quả công việc.
Khi nhân viên được chuyên môn hóa, sản lượng có thể tăng lên. Nguyên tắc 2: Lãnh đạo đi kèm trách nhiệm tương ứng: Nhà quản lý có quyền ra lệnh, nhưng họ phải ghi nhớ rằng quyền chính là trách nhiệm. Herb - Kelleher - cựu Chủ tịch Tập đoàn Southwest Airlines cũng cho rằng "các vị trí và chức danh đều không quan trọng, chất lượng quản lý mới là điều có ý nghĩa hơn hết. Bất kỳ ai, đang đảm nhận cương vị hay chức danh nào cũng có thể là một nhà lãnh đạo qua hành động của mình".
Nguyên tắc 3: Kỷ luật: Kỷ luật phải được tôn trọng trong các tổ chức, nhưng các phương pháp để áp dụng nó có thể khác nhau. “Sự đồng thuận giữa công ty và nhân viên về bản chất được thể hiện qua sự tuân thủ, tính áp dụng, hành vi thể hiện sự tôn trọng.” Nguyên tắc 4: Thống nhất lệnh: Từ lâu, các phương châm quản lý đều cho rằng nhân viên chỉ nên nghe lệnh từ 1 lãnh đạo duy nhất. Ngày nay, với hàng loạt phương pháp và mô hình quản lý kiểu ma trận đan xen nhau, nhiều khi cùng một công việc nhân viên sẽ phải báo cáo với 2 hoặc nhiều hơn cấp lãnh đạo hay bên khách hàng. Vấn đề đặt ra ở đây là, các lãnh đạo có thể sẽ đưa ra những yêu cầu trái ngược nhau, và người nhân 19 viên sẽ rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.
Nguyên tắc 5: Thống nhất chỉ đạo: Đội ngũ nhân viên với cùng một mục tiêu cần phải làm việc dưới sự chỉ đạo của một người quản lý, tuân theo một kế hoạch. Điều này sẽ đảm bảo hoạt động được phối hợp đúng cách. Tỷ phú Lý Gia Thành từng cho rằng "20% thành công của doanh nghiệp nằm ở quyết sách và 80% còn lại là hành động". Nguyên tắc 6: Lợi ích chung cần đặt lên trên hết: Fayol cho rằng lợi ích của một nhân viên hay nhóm không được đặt cao hơn lợi ích chung của tổ chức.
Ý tưởng này dấy lên tranh cãi rằng, vậy ai sẽ là người quyết định xem lợi ích chung của tổ chức là gì? Và ta cũng nên hiểu rằng, các nguyên tắc của Fayol được xây dựng với giả định mọi lợi ích và quyết định của tổ chức đều trung lập và có lý. Nguyên tắc 7: Thù lao: Sự hài lòng của nhân viên phụ thuộc vào thù lao công bằng cho tất cả mọi người. Nguyên tắc 8: Tập trung hóa: Đây là nguyên tắc thiết yếu của mọi tổ chức và là hệ quả tất yếu của quá trình cơ cấu. Ngay cả ở trong những tổ chức có cấu trúc phẳng và quyền lực phân hóa (decentralization), quyền hành nói chung vẫn tập trung vào tay một số người mà thôi.
Trong những tổ chức kiểu này, việc từng cá nhân được tự do đến đâu và hệ lụy từ việc phân tán quyền hành lớn đến mức nào chưa bao giờ được bỏ khỏi bàn tranh luận. Nguyên tắc 9: Xích lãnh đạo: Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên cũng như mệnh lệnh từ trên xuống dưới cần được đảm bảo nguyên tắc rõ ràng, hợp lý, hai bên cùng hiểu. Nhân viên cần phải nhận thức nơi họ đứng trong hệ phân cấp của tổ chức hoặc chuỗi mệnh lệnh. Nguyên tắc 10: Trật tự: Nói đơn giản, mọi tổ chức nên để cho mỗi nhân viên có chỗ đứng riêng, có bổn phận phù hợp với tổ chức, luôn cảm 20 thấy tự tin và an toàn trong môi trường công ty.
Mọi nguyên tắc, luật lệ, hướng dẫn và hành động cần được thể hiện một cách dễ hiểu.