Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Một số vấn đề lý luận chung liên quan đến sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản 1.1 Nguồn vốn ODA của Nhật Bản a, Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Khái niệm ODA được Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chính thức đề cập vào năm 1969; Khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức (viết tắt là ODA): “Nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ”. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu của một quốc gia, một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước hỗ trợ ODA xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một Hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền bên nhận và bên hỗ trợ vốn ký kết, hiệp định quốc tế hỗ trợ này được quy định trong công pháp quốc tế [61, Tr. * Định nghĩa ODA đã được Chính phủ Việt Nam đưa vào Luật; Theo Luật Quản lý nợ công năm 2017; Luật Quản lý nợ công được Quốc hội thông qua ngày 23/11/2017 có định nghĩa về ODA, đưa đặc điểm của ODA vào khái niệm. Theo đó, Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA) là: “Khoản vay vốn nhân danh nhà nước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên Chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với 9 khoản vay không ràng buộc.
Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA” [52, Tr. Qua đó cho thấy; ODA chính là khoản vay kết hợp giữa “một phần cho vay ưu đãi” cộng với “một phần cho không”, trong đó yếu tố cho không có thể được hiểu là: phần cho không (không hoàn lại) hay vay với mức lãi suất thấp, thời hạn vay dài, thời gian ân hạn cao…tất cả quy ra “phần cho không” phải đạt ít nhất 25% trong tổng số vốn vay mới được gọi là ODA. * Theo Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2020 của Chính phủ thì: Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, môi trường, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm: + Vốn ODA viện trợ không hoàn lại là loại vốn ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài. + Vốn vay ODA là khoản vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc đạt ít nhất 25% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc.
Phương pháp tính yếu tố không hoàn lại nêu tại Phụ lục I của Nghị định này [37, Tr. + Quan hệ giữa Chính phủ hoặc Nhà nước với Chính phủ nước tài trợ. + Vốn vay ưu đãi là loại vốn vay có mức ưu đãi cao hơn so với vốn vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của vốn vay ODA. Như vậy có thể hiểu: “Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn viện trợ hoàn lại, các khoản vay ưu đãi và vay kém ưu đãi của các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức Tài chính quốc tế (gọi chung là nhà tài trợ nước ngoài) dành cho các nước đang phát triển” [41, Tr.
Như vậy qua các khái niệm về ODA nói trên đều thống nhất và xoay quanh 4 vấn đề 10 chính cơ bản sau: Hỗ trợ phát triển chính thức là (1) mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính “hỗ trợ” giữa quốc gia này với quốc gia khác (2) nhằm thúc đẩy “phát triển” kinh tế xã hội thông qua con đường (3) “chính thức” giữa cấp nhà nước và nhà nước, giữa Nhà nước hoặc Chính phủ với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia và (4) mối quan hệ “hỗ trợ phát triển chính thức” này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kết tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nhà nước này cam kết dành cho các nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã định với giá trị ít nhất là 25% với tổng số giá trị viện trợ. Từ thực tế chu chuyển luồng vốn ODA trên thế giới và thực tiễn huy động, tiếp nhận, sử dụng, quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam từ năm 1993 đến nay cho thấy Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có tỷ trọng huy động nguồn vốn nước ngoài thông qua hình thức ODA khá lớn. Vốn ODA sử dụng để xây dựng hàng loạt các cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng của quốc gia; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục….bảo vệ môi trường, cải cách hành chính, pháp luật. Hàng loạt công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đến nay đã được đưa vào sử dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Qua những phân tích trên, luận văn xác định: “Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ưu đãi và vay kém ưu đãi của Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia, tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền (gọi chung là nhà tài trợ nước ngoài) nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước đang và chậm phát triển (không tính đến các khoản viện trợ cho mục đích quân sự thuần túy)”. Đây là khái niệm được sử dụng xuyên suốt trong luận văn. 11 b) Những điều kiện ràng buộc trong QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) sử dụng nguồn vốn ODA Đối với nguồn vốn ODA đi kèm với nó là những ràng buộc nhất định về kinh tế, chính trị hoặc văn hóa. Các nước viện trợ ODA đều có chính sách riêng và những điều kiện ràng buộc đối với nước nhận viện trợ nhằm tạo ảnh hưởng chính trị hoặc thu lợi nhuận thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ của mình cho nước nhận viện trợ, hoặc cả hai mục đích trên.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Như vậy, nguồn gốc thực chất của ODA chính là một phần của tổng sản phẩm quốc dân của các nước giàu được chuyển sang các nước nghèo. Do vậy, ODA rất nhậy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận; * Nguồn vốn ODA gắn liền với yếu tố chính trị; Có thể một số nước nhận vốn ODA phải cam kết ủng hộ tính độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế hiện tại của quốc gia tài trợ; ủng hộ quốc gia đó trong các tổ chức quốc tế; có chế độ đối xử ưu tiên về mặt chính trị, văn hoá đối với công dân của họ đang sinh sống, làm việc, kinh doanh tại nước sở tại hoặc cho phép tuyên truyền, giới thiệu nền văn hoá (truyền thống dân tộc, ngôn ngữ, lối sống) của nước tài trợ tại nước sở tại. Ổn định về chính trị, tăng trưởng về kinh tế là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng nâng cao khả năng thu hút, sử dụng hiệu quả ODA.
Nếu thể chế chính trị ở quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, viện trợ tương đương 1% GDP có thể dẫn đến mức tăng trưởng bền vững, ổn định. Ngược lại nếu thể chế chính trị quốc gia tiếp nhận viện trợ không ổn định việc quản lý, sử dụng ODA sẽ gặp nhiều khó khăn như số lượng chương trình/dự án ODA, cơ cấu ODA cũng thay đổi theo, mối quan hệ vay mượn vốn ODA giữa các đối tác có sự thay đổi…dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn ODA không đạt được như mong muốn. ODA cũng 12 chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ sẵn có của bên cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, bởi quan hệ địa dư gần gũi. * Nguồn vốn ODA gắn với điều kiện kinh tế; Mặt khác, nước nhận viện trợ còn phải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ.
Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền của các nước nhận được thì nước tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ sung do chênh lệch tỷ giá tại thời điểm vay và thời điểm trả nợ. Thông thường, nước tiếp nhận không có quyền lựa chọn đồng tiền đi vay, sự lựa chọn này do bên cung cấp quy định. “Ví dụ; Nhật Bản quy định vốn ODA chỉ cho vay bằng đồng Yên của Nhật, Trung Quốc cho vay bằng đồng Nhân dân tệ, Thụy sĩ và Hà Lan là hai nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của nhà tài trợ thấp nhất (1,7% và 2,2%). Nhìn chung, 22% viện trợ của ODA phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ”.
Nguồn vốn ODA là do các nước có tiềm lực kinh nắm giữ, nên họ tìm cách để ảnh hưởng ra các nước đang phát triển, dùng vốn hỗ trợ phát triển để thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế, thương mại thân thiện với các nước nhận vốn ODA.