phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên Chƣơng 4: Giải pháp tăng cường quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc cấp tỉnh 1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc nhà nước cấp tỉnh 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực của con người, bao gồm hai yếu tố: Thể lực và Trí lực.
Thiếu một trong hai yếu tố đó không thể coi là một nhân lực. Thể lực nói ở đây là khả năng lao động phù hợp với công việc được giao. Nguồn nhân lực (NNL) được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Về cơ bản, quan niệm của các nước và tổ chức quốc tế về nguồn nhân lực tương đối thông nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nguồn nhân lực.
Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì nguồn lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường,không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh. Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai". Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của NNL.
Theo Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hay địa phương NNL được xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động của một 6 nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”. Theo cách hiểu này, NNL là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương. Một cách chung nhất, có thể hiểu NNL là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. NNL là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia.
Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi. Nguyễn Hữu Dũng xem xét NNL dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội, “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) có trong một thời kỳ nhất định (có thể tính cho 1 năm, 5 năm, năm phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển). Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế – xã hội đòi hỏi (tức cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu).
Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực xã hội của con người (năng lực xã hội nguồn nhân lực). Năng lực xã hội của nguồn nhân lực có được thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và nó không ngừng được tăng cường, nâng cao trong quá trình sống và làm việc”. Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét NNL dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyển NNL sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải 7 pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Theo Nguyễn Thanh, NNL được hiểu là "Tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội ".
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra khái niệm nguồn nhân lực sử dụng trong luận văn này là: “Nguồn nhân lực trong một tổ chức là tiềm năng lao động của lực lượng lao động trong tổ chức trên các mặt số lượng, cơ cấu (theo giới tính, độ tuổi, tính chất công việc) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển, phục vụ cho mục đích tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức. Quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một DN, thể hiện qua sự cách thức, biện pháp hành xử của DN với người lao động. QL NNL được hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản lý và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với công việc của họ trong bất cứ DN nào. Theo Trần Xuân Tuấn, 2015, QL NNL là quá trình tuyển dụng, lựa chọn, duy trì, phát triển và tạo điều kiện có lợi cho NNL trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó.
Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2004, có đưa ra quan điểm: Quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay quản trị nhân lực đều được sử dụng chung và khái niệm quản lý nhân lực (quản trị nhân lực) như sau: Quản lý nhân lực là tất cả mọi hoạt động của tổ chức nhằm xây dựng, sử dụng, duy trì và phát triển một lực lượng lao động sao cho phù hợp với công 8 việc của tổ chức cả về số lượng và chất lượng. Đi sâu vào nội dung hoạt động của quản lý nhân lực, Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: Quản lý nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức. Quản lý nhân lực bao gồm những nội dung công việc như: Phân tích công việc, lập kế hoạch nhân lực, tuyển dụng nhân lực; Sử dụng, duy trì nhân lực; Phát triển nhân lực. Quản lý NNL đề ra: mục tiêu, chính sách, kế hoạch sử dụng NNL nhằm đảm bảo phù hợp với công việc, tiến độ, mục tiêu của DN và bố trí phù hợp lực lượng lao động làm việc theo từng vị trí, chức năng.
Bên cạnh đó Quản lý NNL đề ra phương hướng hoạt động cho DN nhằm duy trì ưu thế cạnh tranh thông qua việc xác định những vấn đề liên quan về NNL, chiến lược NNL. Có thể thấy Quản lý NNL có liên hệ chặt ch với chiến lược phát triển của DN. Quản lý NNL giúp tìm kiếm, phát hiện và phát triển những hình thức hay những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể nhìn nhận được. Từ đó tạo động lực thúc đẩy người lao động phát huy hết tâm huyết của mình cho DN.
Do vậy, có thể khẳng định Quản lý NNL có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của DN. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật. Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật, có trụ sở tại thành phố Hà Nội. 9 Quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong Kho bạc Nhà nước.
Đặc điểm, vai trò quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh 1. Đặc điểm quản lý nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh Quản lý nhân lực giúp nhà quản lý ổn định tổ chức, hướng tới đạt mục tiêu đề ra, bên cạnh đó cũng mang lại lợi ích cho cá nhân khi tham gia vào tổ chức, họ được thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản và nguyện vọng khiến họ phát huy khả năng của bản thân, tăng sự gắn bó của cá nhân với tập thể bởi trong các tổ chức, các cơ quan Nhà nước quản lý nhân lực mang những đặc điểm cơ bản sau đây: Tính ổn định: Hoạt động của các tổ chức, cơ quan Nhà nước thường được xác định trong những khoảng thời gian dài với nhiệm vụ và chức năng được giao có bảo đảm của cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập do vậy chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức cũng được bảo đảm ổn định tương ứng. Chính sự ổn định này tạo ra niềm tin về việc làm, thu nhập, triển vọng phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân khi tham gia vào tổ chức. Tính gắn bó của nhân lực với tổ chức: Tâm lý ổn định khi làm việc trong cơ quan Nhà nước tạo cho nhân lực yên tâm công tác và mong muốn đóng góp sức lực và trí tuệ của vào sự nghiệp chung của tổ chức điều đó khiến họ gắn bó nhiều hơn.