lời mở đầu, kết cấu của luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý nhân lực tại các tổ chức Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý nhân lực tại Sở tƣ pháp tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại Sở tƣ pháp tỉnh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI CÁC TỔ CHỨC 1. Cơ sở lý luận về 1. Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2010), trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân có nói: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”.[5] Theo tác giả Trần Văn Minh: “Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh”.[8] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nhƣ vậy, nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực, tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức, hay xã hội. Nguồn lực và những tiềm năng này đƣợc phát triển cùng sự phát triển của cơ thể con ngƣời, và chịu sự tác động lớn từ những yếu tố bên ngoài tổ chức nhƣ trình độ quản lý, trình độ sử dụng lao động, môi trƣờng lao động.
Nguồn nhân lực Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên năm 2008 đã định nghĩa: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” và “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”.
Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản năm 2006 lại định nghĩa: “Nguồn nhân lực tổ chức là lực lượng lao động của từng tổ chức, là số người có trong danh sách của tổ chức, do tổ chức trả lương”.[11] Theo giáo trình Quản lý nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Ths. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên thì khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: "Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực".[13] Theo giáo trình nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên xuất bản năm 2005 lại định nghĩa: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội.[18] Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên ta thấy, nguồn nhân lực đƣợc đánh giá trên hai góc độ là theo nghĩa hẹp và rộng nhƣ sau: Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực lao động. Do vậy, nó có thể lƣợng hóa đƣợc là một bộ phận của dân số bao gồm những ngƣời trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lƣợng lao động. Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Chính vì vậy, nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên góc độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hiểu thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ… Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của ngƣời lao động. Nhƣ vậy: trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lƣợng và sức mạnh của nguồn nhân lực. Do đó, để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong nền kinh tế nói chung và trong tổ chức nói riêng, chúng ta cần phải quan tâm đến các yếu tố này.
Quản lý nhân lực tại Sở tư pháp Hiện nay vẫn chƣa có khái niệm cụ thể về quản lý nguồn nhân lực tại Sở tƣ pháp. Vì vậy để đƣa ra quan điểm về quản lý nguồn nhân lực tại Sở tƣ pháp tác giả xuất phát từ khái niệm quản lý NNL. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 “Quản lý nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan và có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và cán bộ công nhân viên của nó. Quản lý nguồn nhân lực đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lƣợc và gắn với chiến lƣợc hoạt động của tổ chức”.
Ở đây danh từ “Quản lý” bao gồm các khía cạnh nguồn nhân lực liên quan đến cơ cấu, điều hành và phát triển. - Cơ cấu: Xây dựng cách lãnh đạo cho nguồn nhân lực, tạo cho nguồn nhân lực các hệ thống (phù hợp với các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức) để điều khiển quá trình. - Điều hành: Nghĩa là chỉ đạo nhân lực trong ý nghĩa điều khiển cung cách ứng xử của nhân viên qua quá trình lãnh đạo nhân viên và chế ngự hệ thống nhân sự. - Phát triển: Là cách lãnh đạo để khuyến khích khả năng học hỏi hoàn thiện liên tục việc tạo dựng cơ cấu tổ chức và điều hành tổ chức.
Vậy, Quản lý nguồn nhân lực là gì? Các tổ chức đều có các nguồn lực, bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con ngƣời cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mà tổ chức đƣa ra thị trƣờng. Hầu hết các tổ chức đều xây dựng các thủ tục và quy trình về cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị nhằm đảm bảo việc cung cấp đầy đủ chúng khi cần thiết. Tƣơng tự nhƣ vậy, các tổ chức cần phải quan tâm đến qui trình quản lý con ngƣời - một nguồn lực quan trọng của họ. Nhƣ vậy, căn cứ vào khái niệm quản lý nguồn nhân lực tác giả đƣa ra quan điểm về Quản lý nguồn nhân lực tại Sở tƣ pháp nhƣ sau: Quản lý nguồn nhân lực tại Sở tƣ pháp là đảm bảo cho các hoạt động của Sở tƣ pháp trong một khuôn khổ đã định sẵn, công việc đƣợc sắp xếp có trật tự, kỷ cƣơng và phù hợp với khả năng của ngƣời lao động.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của quản lý nhân lực tại Sở tư pháp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa của quán lý nguồn nhân lực tại Sở tư pháp Tầm quan trọng của quản lý NNL tại Sở tƣ pháp cũng giống nhƣ tầm quan trọng của quản lý NNL tại các tổ chức. Do đó, tầm quan trọng về quản lý nguồn nhân lực tại Sở tƣ pháp mang đầy đủ đặc điểm về quản lý NNL tại tổ chức nhƣ: - Giúp cho hoạt động của Sở tƣ pháp đƣợc mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả chung. - Đảm bảo đủ số lƣợng ngƣời lao động với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc, và vào đúng thời điểm để đạt đƣợc các mục tiêu của Sở.
- Giúp Sở tƣ pháp đạt đƣợc mục tiêu của Sở và duy trì phát triển sức tiềm tàng của con ngƣời. Quản trị nhân lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lƣợng và chất lƣợng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Quản lý nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phƣơng pháp tốt nhất để ngƣời lao động đóng góp nhiều sức lực cho việc đạt đƣợc các mục tiêu của Sở, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân ngƣời lao động. Tạo điều kiện cả về vật chất và tinh thần để phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân trong bộ máy nhân sự của tổ chức, áp dụng các giải pháp có tính đòn bẩy và các chính sách phù hợp để kích thích lòng nhiệt tình, sự hăng hái của cán bộ công nhân viên đối với công việc chung của Sở tƣ pháp , khai thác tốt đƣợc ý chí tiến thủ, tinh thần sáng tạo của tập thể ngƣời lao động để cho họ thấy đƣợc triển vọng tƣơng lai tƣơi sáng khi gắn bó chặt chẽ với Sở tƣ pháp để họ có sự tận tâm trong công việc đƣợc giao và trung thành với Sở tƣ pháp.
Tầm quan trọng của quản lý nhân lực tại Sở tư pháp Sở tƣ pháp là một đơn vị tổ chức hoạt động hành chính sự nghiệp. Hoạt động của Sở tƣ pháp tuy không vì mục đích lợi nhuận nhƣ các hoạt động của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 các đơn vị khác.