CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NHÂN LỰC PHI CÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về quản lý nhân lực phi công Nhân lực phi công là bộ phận đặc thù của quản lý nhân lực. Trong s6 các công trình nghiên cứu về nhân lực, đã có các công trình đề cập tới nhân lực của ngành hàng không với tư cách là bộ phận nhân lực đặc thù trong nền kinh tế, tiêu biểu là: Theo Báo cáo của Tổ chức Hàng không Dân dụng quốc tế (ICAO) “Amnual Report of the Council - 2010”, nhân lực phi công hàng không dân dụng của các quốc gia trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của hàng không dân dụng quốc tế không những cần phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật lái bay, mà còn phải không ngừng nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Từ đó ICAO yêu cầu các thành viên phải nghiêm chỉnh thực hiện Nghị quyết bổ sung của ICAO về thành thạo ngoại ngữ đối với phi công để đảm bảo tiếp nhận chính xác thông tin liên lạc. Báo cáo cũng cho rằng, cần phải xây dựng chương trình đào tạo phi công không những đủ về số lượng, mà đặc biệt là dam bảo về chất lượng dé thực hiện tốt các chuyên bay quốc tế. Bao cao của ICAO “Annual Report of the Council - 2011”, cũng tập trung phân tích các yêu cầu đối với phát triển nhân lực hàng không nói chung và nhân lực phi công nói riêng. Theo đó, trong Báo cáo có nhắn mạnh việc thực hiện các quy định về tiêu chí đánh giá mức độ chuyên nghiệp của nhân lực ngành hàng không, đặc biệt đối với phi công hàng không dân dụng trên cơ sở những tri thức chuyên ngành và kinh nghiệm thực tiễn quan các chuyến bay.
ICAO cho rằng, trong đảo tạo đội ngũ phi công hàng không dân dụng của các thành viên, cần phải xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá quốc tế không những đối với phi công hàng không dân dụng, mà cả đối với các cơ sở đào tạo nhân lực này, đồng thời áp dụng các biện pháp đào tạo có tính chuyên nghiệp ngày càng cao. Trong Báo cáo của ICAO, “Annual Report of the ICAO Council: 2013. The World of Air Transport”, trên cơ sở phân tích tinh hình phát triển thực tế của ngành hàng không dân dụng trên thế giới năm 2013 đã đưa ra dự báo rằng giao thông hàng không toàn cau từ nay đến năm 2030 có thé tăng gấp đôi. Với 3,1 tỷ hành khách hàng không thực hiện trong năm 2013 dự kiến sẽ tăng đến khoảng sáu tỷ USD vào năm 2030, và số lượng các chuyến khởi hành được dự báo sẽ tăng từ 32 triệu USD trong năm 2013 đến khoảng 60 triệu vào năm 2030.
Dé phục vụ nhu cầu phát triển của ngành hàng không các nhà sản xuất lớn của thế giới bàn giao khoảng 1.500 bay thương mại mới trong năm 2013 và đã ghi nhận đơn đặt hàng cho hơn 3 000 bay mới. Xu thế đó có tác động đáng ké tới sự phát triển nguồn nhân lực hàng không của các quốc gia, trong đó có nhân lực phi công. Các công trình nghiên cứu tại Nga, cho rằng việc chuyên sang sử dụng các loại bay của nước ngoài làm cho nước Nga phải đối mặt với vấn đề về nhân lực phi công để đảm bảo an toàn cho các chuyến bay. Từ đó, cần phải tạo lập hệ thống đảo tạo phi công chất lượng cao dưới sự bảo trợ của Nhà nước.
Trước hết, đối với vẫn đề đảo tạo ban đầu ngoài các tiêu chí về thể lực, kiến thức, cần đặc biệt chú trọng đào tạo thực hành với cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp. Bên cạnh đó cần có chính sách sử dụng, đãi ngộ và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ phi công, trong đó có cả dao tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ tiếng Anh. Ngành hàng không của Liên bang Nga thời hậu Xô Viết có sự thay đổi lớn về chất và toàn diện vào đầu thé kỷ XXI. Trong đó có tình trạng đội ngũ phi công chưa hoàn toàn tương thích với việc áp dụng các loại bay mới của nước ngoài, dẫn tới sự thiếu hụt đáng kế nhân lực phi công chất lượng cao với nghĩa là: chưa thông thạo tiếng Anh và chưa được tiếp cận nhiều với công nghệ máy bay Bắc Mỹ và Tây Au.
Dong thời với nó là chế độ sử dụng phi công của nước Nga có nhiều bat cập không đủ sức ngăn chăn được xu hướng “chảy máu” phi công chất lượng cao sang các nước đang phát triển. Tình trang đó yêu cầu phải thay đôi quan điểm về sử dụng phi công, trước hết là cơ sở pháp lý theo hướng mở rộng thu hút nhân lực phi công từ nước ngoài, kế cả từ các nước đang phát triển. Ngành hàng không của Liên bang Nga thời hậu Xô Viết có sự thay đổi lớn về chất và toàn diện vào đầu thế kỷ XXI. Trong đó có tình trạng đội ngũ phi công chưa hoàn toàn tương thích với việc ap dụng các loại bay mới của nước ngoài, dẫn tới sự thiếu hụt đáng kế nhân lực phi công chất lượng cao với nghĩa là: chưa thông thạo tiếng Anh và chưa được tiếp cận nhiều với công nghệ máy bay Bắc Mỹ và Tây Âu.
Đồng thời với nó là chế độ sử dụng phi công của nước Nga có nhiều bất cập không đủ sức ngăn chăn được xu hướng “chảy máu” phi công chất lượng cao sang các nước đang phát triển. Tình trạng đó yêu cầu phải thay đổi quan điểm về sử dụng phi công, trước hết là cơ sở pháp lý theo hướng mở rộng thu hút nhân lực phi công từ nước ngoài, kế cả từ các nước đang phát trién. Trong công tác quản lý nhân lực, dé có được đội ngũ nhân tai phù hợp với doanh nghiệp, với tổ chức ngoài việc bồi dưỡng, đào tạo tại chỗ thì thu hút nhân tài là việc làm cần thiết và quan trọng đối tat cả các quốc gia trên thé giới. Allen (2006), Đại hoc Cornell đã thực hiện đề tai nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Đề tài nghiên cứu này đã phát triển lý thuyết về hệ thống quản lý tài nguyên con người như thé nào dé góp phần vào thành công của các doanh nghiệp vừa va nhỏ. Dựa trên lý thuyết về quản lý nguồn nhân lực và hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp nhỏ, tác giả đã chỉ ra rằng hệ thống quản lý nguồn nhân lực tốt sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đề cập đến 3 vấn đề, thứ nhất: tác động của quản lý nguồn nhân lực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; thứ hai: lợi ích liên quan từ việc lựa chọn doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nghiên cứu; thứ ba: một số kết luận rút ra trong công tác quản lý nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan dén nhân lực phi công Ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân lực.
Trong hầu hết các công trình, bài viết, các tác giả đều nhân mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của nhân lực, đặc biệt là nhân lực có chất lượng đối với phát triển kinh tế đất nước, nêu ra tiêu chí phân loại, đánh giá nhân lực và các giải pháp phát triển nhân lực. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng trong "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh té quốc tế", đã nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là một bộ phận cầu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, có tính quyết định đối với quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tác giả Nguyễn Đắc Hung trong "Phát triển nhân tài chan hưng đất nước" cho rằng, việc lựa chọn và đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao của Việt Nam cần dựa trên những kinh nghiệm đào tạo tài năng cha ông và của các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Trong công trình: "Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước", tác giả Nguyễn Đắc Hưng đã đề ra những yêu cầu về năng lực sáng tạo và thích nghi, đồng thời nhắn mạnh xu hướng phát triển đa năng của người lao động trình độ cao, thé hiện sự kết hợp hai hòa giữa năng lực kỹ thuật, khả năng quản lý và tài năng kinh doanh.
Trong bai viết “Ngành hàng không thế giới thiếu nhân sự”, đã viện dẫn kết quả nghiên cứu của ICAO về xu thé gia tăng về số lượng bay dân dụng hoạt động thương mại từ 61.565 bay trong giai đoạn 2010-2030 và số chuyến bay sẽ tăng từ 26 triệu lên 52 triệu chuyến trong thời gian này. Vì vậy, số phi công, nhân viên bảo dưỡng bay và nhân viên kiểm soát không lưu trên toàn cầu ít nhất phải tăng gấp đôi so với hiện nay. Theo dự báo của ICAO, vào năm 2030, ngành hàng không dân dụng thé giới cần đào tạo ít nhất trên 2 triệu nhân viên hàng không chất lượng cao này, trong đó cần 980.969 nhân viên bảo dưỡng và 139.796 nhân viên kiểm soát không lưu dé đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của ngành và bù vào số lượng lao động nghỉ hưu. Do vậy, trung bình hăng năm ngành hàng không dân dụng thế giới cần đào tạo 52.331 nhân viên bảo dưỡng và 8.718 nhân viên kiểm soát không lưu.
So với khả năng đào tạo hiện nay hằng năm, ngành còn thiếu 8.000 nhân viên bảo dưỡng và 1.978 nhân viên kiểm soát không lưu. Từ đó cần phải nhanh chóng tăng cường khả năng đào tạo, bù đắp tình trạng thiếu hụt nhân viên chất lượng cao của ngành hàng không dân dụng thế giới. Dé bảo đảm an toàn của hệ thống hàng không dân dụng toàn cầu, ICAO đang thúc đây mạnh mẽ những giải pháp hiệu quả nhất để tránh hậu quả của hiện trạng này, trong đó có chiến lược tuyển dụng, giáo duc, dao tạo và giữ chân các nhân viên hàng không chat lượng cao. Trong bài viết Trang Ami “Từ A đến Z về cuộc sống du học ngành phi công” đã trình bày về khá cụ thể quá trình tuyển chọn học viên phi công ở nước ngoàivới bốn phần thi bao gồm Sức khỏe, IQ Toán Lí, Tiếng Anh, trong đó phần kiểm tra sức khỏe vô cùng căng thang với tiêu chí rất cao về tiền đình và đặc biệt là về mắt.