phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục viết tắt, Danh mục bảng, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cầu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nƣớc tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công quản lý ngân sách nhà nƣớc tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý ngân nhà nƣớc cấp huyện 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản ngân sách (QLNS) tại địa phƣơng, tác giả lựa chọn các công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến để tài nhƣ sau: *Một số nghiên cứu chỉ ra hạn chế trong công tác quản lý NSNN cấp huyện như sau: Tác giả Trần Vân Trang (2017), nghiên cứu “Quản lý chi ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”.
Tuy nhiên, quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện vẫn tồn tại những mặt hạn chế trong xây dựng, lập, duyệt, phân bổ, thực hiện dự toán chƣa sát thực tế nên hàng năm phải bổi sung kinh phí, gây lãng phí NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát còn buông lỏng mức độ sai phạm phát hiện nộp ngân sách 11.785,1 triệu đồng, xử lý khác 11.591,3 triệu đồng Tiếp đến tác giả Lâm Mạnh Cƣờng (2019), nghiên cứu “Quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”. Tác gỉa cho thấy hoạt động quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Văn Lâm thời gian qua còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế đó là: Tại nhiều địa phƣơng thu NSX vẫn còn hiện tƣợng thất thu, bỏ sót nguồn thu, vẫn còn tình trạng che dấu nguồn thu việc rà soát các hộ kinh doanh chƣa tiến hành đồng bộ tại các địa phƣơng, hiệu quả chƣa đạt mong đợi, Các khâu trong quy trình thu còn nhiều hạn chế, hiệu quả công tác thanh, kiểm tra hoạt động quản lý thu NSX chƣa cao, đôi khi vẫn mang tính hình thức, còn tình trạng nể nang; kết quả thanh, kiểm tra quản lý thu NSX chƣa gắn với chế tài xử lý, chƣa sử dụng để tham mƣu kịp thời cho lãnh đạo ra quyết định quản lý, điều hành; hoạt động thanh, kiểm tra đôi khi vẫn còn tình trạng chồng chéo, trùng lắp giữa các đơn vị có chức năng thanh tra Tác giả Lƣơng Thị Thành Nam và cộng sự (2019), “Nghiên cứu quản lý ngân sách trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”. Tác giả cho thấy hạn chế trong 4 công tác lập dự toán NSNN: Chất lƣợng của công tác lập dự toán chƣa cao, số liệu dự toán một số nội dung thu, chi do các cơ quan, đơn vị, địa phƣơng trên địa bàn huyện ƣớc số thực hiện năm trƣớc và tăng thêm một tỷ lệ nhất định để lập dự toán cho năm kế hoạch trong thời kỳ ổn định ngân sách. Công tác chấp hành dự toán NSNN: Việc quản lý, khai thác nguồn thu trên địa bàn huyện Nghi Lộc, nhất là các khoản thu nhỏ nhƣ: Thuế môn bài (năm 2015 - 2016), thuế sử dụng đất, thuế bảo vệ môi trƣờng, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu, thu sự nghiệ… Công tác thanh tra, kiểm tra NSNN: Công tác thanh tra, kiểm tra chƣa có sự phối hợp chặt chẽ, xử lý sai phạm chƣa triệt để, có những sai phạm đƣợc phát hiện nhƣng đối tƣợng vi phạm chƣa khắc phục qua nhiều năm và số trƣờng hợp xử lý nghiêm không nhiều.
Đối với công tác thẩm tra dự án hoàn thành, qua kiểm tra, phát hiện báo cáo quyết toán của các chủ đầu tƣ lập còn nhiều sai sót. Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Văn Thông và cs (2020), “Quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”. Lại cho rằng hạn chế trong quản lý chi của huyện là: Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong công tác quản lý chi chƣa đƣợc thể hiện rõ. Còn nhiều cơ quan, đơn vị cùng tham gia quản lý, kiểm soát thanh toán chi NSNN.
Công tác lập dự toán chi NSNN hàng năm chƣa thật sự sát với thực tế, vẫn còn tình trạng mức dự toán chi ngân sách thấp hơn rất nhiều so với quyết toán chi hàng năm. Chất lƣợng lập dự toán của nhiều đơn vị sử dụng NSNN còn thấp, chƣa bao quát hết yêu cầu nhiệm vụ chi trong năm kế hoạch; ngân sách chi thƣờng xuyên và ngân sách chi đầu tƣ phát triển đƣợc lập một cách riêng lẻ, độc lập; lập dự toán sai mẫu biểu, không đúng mục lục NSNN. Việc phân bổ dự toán còn nặng về hình thức, coi nhẹ nhu cầu chi tiêu của cấp dƣới và chƣa xem xét đúng mức đặc điểm, tình hình cụ thể trong kỳ kế hoạch nên việc phân bổ dự toán còn cào bằng, chƣa phù hợp với thực tế. *Một số nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý NSNN cấp huyện: Tác giả Đinh Thị Thu Hà (2018), nghiên cứu “Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước của huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình”.
Tác giả cho thấy các yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc của huyện Yên 5 Mô bao gồm các yếu tố về cơ chế, chính sách và các quy định của nhà nƣớc về quản lý chi ngân sách Nhà nƣớc, tổ chức bộ máy quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc; năng lực, trình độ chuyên môn và ý thức trách nghiệm của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc; Công nghệ thông tin quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn địa phƣơng. Đinh Hồng Sơn (2021); Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Tác giả cho thấy các yếu tố ảnh hƣởng: Nguồn lực cơ quan thuế; Tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp; Chính sách pháp luật thuế; Thanh tra, kiểm tra; Nhận thức của doanh nghiệp; Nhận thức của doanh nghiệp; Yếu tố kinh tế - xã hội; Đặc điểm của doanh nghiệp. Hoàng Thị Thảo, Bùi Văn Hiếu (2021), Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Hệ thống pháp luật của nhà nƣớc; Trình độ phát triển và mức thu nhập của ngƣời dân; Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN; Trình độ quản lý của cán bộ; Sự phối hợp của các cơ quan chức năng. *Một số nghiên cứu chỉ ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NSNN cấp huyện: Trần Ngọc Lan (2014), nghiên cứu “Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh". Qua phân tích luận giải các mặt mạnh, mặt yếu của công tác quản lý ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn và từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện ở huyện Gia Bình trong thời gian tới. Cụ thể: Nâng cao chất lƣợng xây dựng và lập dự toán ngân sách huyện; Hoàn thiện quản lý chấp hành dự toán ngân sách huyện; Tăng cƣờng thanh tra, kiểm tra tài chính ngân sách; Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức quản lý NSNN; Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Huyện ủy và sự điều hành của Uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình đối với quản lý ngân sách nhà nƣớc; Nâng cao vai trò kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nƣớc; Thực hiện công khai tài chính.
Đặng Thu Thảo (2016), nghiên cứu “Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”. Tác giả cho rằng tăng cƣờng quản lý NSNN qua kho bạc nhà nƣớc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc 6 Ninh cần thực hiện các nhóm giải pháp, cụ thể là: Hoàn thiện các quy định về thu, chi ngân sách phù hợp với điều kiện thực tế của huyện. Phân công cán bộ kế toán thu, chi theo chuyên môn, tăng cƣờng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực công tác cho cán bộ kho bạc. Hoàn thiện hệ thống thông tin, hoàn thiện và đƣa phần mềm quản lý NSNN vào sử dụng, tăng cƣờng liên kết và trao đổi thông tin giữa các cơ quan.
Hiện đại hóa công tác quản lý thu, chi ngân sách, áp dụng công nghệ thông tin và thanh toán điện tử Dƣơng Thị Lý (2016), “Quản lý chi ngân sách Nhà nước tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”. Để quản lý tốt chi NSNN tác giả đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang nhƣ: nâng cao chất lƣợng công tác lập dự toán; hoàn thiện công tác chấp hành dự toán; nâng cao chất lƣợng quyết toán NSNN huyện; phối hợp với KBNN, phát huy tối đa chức năng kiểm soát chi NSNN huyện; nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính và đầu tƣ hiện đại hóa công nghệ phục vụ công tác quản lý chi NSNN. Đàm Thị Huệ (2019), “Giải pháp nâng cao công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện, thị. Trường hợp nghiên cứu tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông”.
Tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao công tác quản lý NSNN đó là: Cần công khai NSNN trên địa bàn; Hoàn thiện quy trình lập và chấp hành NSNN nhƣ nội dung dự toán phải đảm bảo với yêu cầu phát triển KT-XH của địa phƣơng, thu phải dự báo sát, chi phải xác định những khoản chi trọng điểm; Tăng cƣờng bồi dƣỡng nguồn thu cho NSNN; Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra bằng cách kiểm tra đúng đắn hợp pháp số liệu báo cáo, kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan thanh tra, kiểm tra, thanh tra tài chính tăng công tác kiểm tra, giám sát đối với các đơn vị thu nộp và sử dụng NSNN .