phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách huyện. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN 1. Cơ sở khoa học của ngân sách Nhà nƣớc, ngân sách huyện 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách Nhà nước Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002, Ngân sách Nhà nước được đề cập như sau:"Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà Nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước".
Về bản chất, NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, cơ quan HCSN, hộ gia đình, cá nhân… trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NS. Ngân sách nhà nước Việt Nam gồm NSTW và NSĐP. Ngân sách địa phương có NS của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND. Phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay, NSĐP bao gồm NS cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; NS cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và NS cấp xã, phường, thị trấn.
Đặc điểm của ngân sách Nhà nước NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ. - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu - chi của NSNN và hoạt động thu - chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư.
- Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ. Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện.
Chính vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước. Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị. - Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình.
Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế. Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp. Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến. Hoạt động thu - chi lúc này mang tính cống nạp - ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có). Quyền quyết định các khoản thu - chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định.
Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội. NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân. Vai trò của ngân sách Nhà nước - Điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế Góp phần định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển và chống độc quyền. Ngân sách nhà nước cung cấp kinh phí để nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, hình thành các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt từ đó tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Nhà nước sử dụng một nguồn vốn không nhỏ để hình thành các doanh nghiệp nhà nước là biện pháp để chống độc quyền và giữ cho thị trường tránh rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Trong những trường hợp cần thiết, sử dụng một số vốn trong ngân sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ổn định về cơ cấu, vượt qua thời kỳ khó khăn hoặc chuẩn bị chuyển sang một cơ cấu mới cao hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Vay nợ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng cần phải thận trọng trong các chính sách điều khoản, mức vay và thời hạn vay và đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn vay này.
Bên cạnh đó ngân sách Nhà nước đóng vai trò quan tọng trong việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển và chống độc quyền. Ngân sách nhà nước cung cấp kinh phí để nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, hình thành các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt từ đó tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Nhà nước sử dụng một nguồn vốn không nhỏ để hình thành các doanh nghiệp nhà nước là biện pháp để chống độc quyền và giữ cho thị trường tránh rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Trong những trường hợp cần thiết, sử dụng một số vốn trong ngân sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ổn định về cơ cấu, vượt qua thời kỳ khó khăn hoặc chuẩn bị chuyển sang một cơ cấu mới cao hơn.
Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Vay nợ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng cần phải thận trọng trong các chính sách điều khoản, mức vay và thời hạn vay và đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn vay này. - Giải quyết các vấn đề xã hội Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội. Ngân sách nhà nước đầu tư thực hiện các chính sách xã hội như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 chi cho Giáo dục - đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xã hội, trợ giá hàng hóa… Thông qua hình thức thu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập, phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp.
Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm. Tuy nhiên, vấn đề sử dụng công cụ ngân sách nhà nước để điều chỉnh các vấn đề xã hội cần chú ý thống nhất giữa chính sách và biện pháp thực hiện để nhóm đối tượng hưởng lợi từ chính sách phù hợp với mục tiêu của chính sách. - Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách bình ổn giá cả thị trường, chống lạm phát. Nhà nước sử dụng những công cụ về chính sách chi ngân sách, thuế, phí, lệ phí, vay để có thể chủ động điều chỉnh giá cả và thị trường.
Những chính sách đó có thể thắt chặt hay nới lỏng tùy thuộc vào mục đích và mức độ tác động đến cung - cầu thị trường mà nhà nước mong muốn điều chỉnh. Việc huy động của ngân sách nhà nước từ các hình thức thuế, phí, lệ phí, vay, bảo hiểm xã hội trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của dân cư giảm xuống nhưng ngân sách nhà nước lại có điều kiện tăng cầu với quy mô lớn và chi cho đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung.