Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Khung phân tích và cách tiếp cận. Chương 3: Thực trạng lập phân bổ ngân sách đối với ngành giáo dục trên địa bàn huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, giai đoạn năm 2014-2019. Chương 4: Kết luận và kiến nghị để hoàn thiện phương thức lập, quản lý ngân sách theo đầu ra đối với ngành giáo dục trên địa bàn huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2 Khung phân tích và cách tiếp cận 2. Tổng quan về chi tiêu công 2. Khái niệm chi tiêu công Trong khuôn khổ của phạm trù tài chính công, có thể khái niệm chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ. Với khái niệm này cho thấy ngoại trừ các khoản chi của quỹ ngoài ngân sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi của ngân sách nhà nước hàng năm được quốc hội thông qua.
Chi tiêu công phản ánh giá trị của các loại hàng hóa mà Chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện chức năng của nhà nước. Dựa vào hiệu quả và hiệu quả chi tiêu công là chỉ số được tính toán thông qua chỉ tiêu so sánh giữa chi phí đầu vào bỏ ra đề sản xuất một đơn vị đầu ra (Theo quan điểm các nhà kinh tế học cổ điển). Phân loại chi tiêu công Để giúp cho nhà nước thiết lập được những chương trình hành động, tăng cường tính hiệu quả trong việc thi hành ngân sách nói chung và chi tiêu nói riêng, quy định trách nhiệm trong việc phân phối sử dụng nguồn lực nhà nước, có thể phân loại chi tiêu công theo những căn cứ sau: Căn cứ vào chức năng vĩ mô: Chi tiêu công chi cho các hoạt động như: Xây dựng cơ sở hạ tầng; Tòa án và Viện kiểm sát; Quân đội; Giáo dục; Quản lý nhà nước, an sinh xã hội…. Căn cứ vào tính chất kinh tế: + Chi thường xuyên: đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết cho hoạt động khu vực công gồm các khoản chi lương, chi nghiệp vụ, quản lý cho các hoạt động, kinh tế, giáo dục, y tế, hành chính, an ninh quốc phòng, chi chuyển giao… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 + Chi đầu tư phát triển: đây là nhóm chi gắn liền với chức năng kinh tế của nhà nước, chi xây dựng công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội - ưu tiên những công trình không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia quản lý và điều tiết nhà nước, cho dự trữ nhà nước… - Căn cứ vào quy trình lập ngân sách: + Chi theo yếu tố đầu vào: với cách phân chia này, dựa vào sự liệt kê các khoản mục mua sắm các phương tiện cần thiết cho các hoạt động của các cơ quan, đơn vị để qua đó nhà nước xác lập mức kinh phí tài trợ, gồm các khoản mục mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động, chi tiền lương và các khoản phụ cấp.
+ Chi tiêu công theo đầu ra: Mức kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn vị không căn cứ vào các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả hoạt động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị. Hiệu quả chi tiêu công 2. Khái niệm hiệu quả chi tiêu công Hiệu quả chi tiêu công là một khái niệm bắt nguồn từ mục đích thỏa mãn các nhu cầu tất yếu để đạt các mục tiêu quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước trong mối quan hệ khách quan về khả năng tổ chức, khai thác nguồn lực tài chính công và cách thức phối hợp giữa chúng phù hợp với quan hệ xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Hiệu quả chi tiêu công là nhấn mạnh đến hiệu quả các yếu tố thuộc về quản lý như: xây dựng thể chế, tổ chức, cung cấp thông tin, sử dụng công cụ để xây dựng nguồn lực tối ưu tạo ra kết quả và các đầu ra cuối cùng sao cho phù hợp với chiến lược quản lý và mục tiêu tổng thể (Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài, 2010).
Hiệu quả chi tiêu công thể hiện ở hai yêu cầu khi ngân sách được đánh giá đảm bảo tính hiệu suất và tính hiệu quả: - Tính hiệu suất: mô tả mối quan hệ giữa đầu ra (ở dạng hàng hoá và dịch vụ) với đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra. Hoạt động có đầu ra với chi phí đầu vào thấp nhất là hoạt động có hiệu suất nhất. Một hoạt động có hiệu suất nhất khi nó tạo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 ra đầu ra tối đa với đầu vào cho trước, hoặc tạo ra đầu ra với chi phí đầu vào tối thiểu. - Tính hiệu quả: Mô tả mức độ đạt mục tiêu của một hoạt động bằng cách đo lường đầu ra và kết quả cuối cùng.
Sơ đồ thể hiện tính hiệu suất và hiệu quả (1). So sánh kinh tế Chi phí 1 (2). So sánh hiệu suất Đầu vào (3). Mức độ thành công 2 Hoạt động 4 (4).
Hiệu quả sử dụng nguồn lực Đầu ra 3 Kết quả Sơ đồ 1: Tính hiệu suất và tính hiệu quả 2. Gia tăng hoạt động cung ứng dịch vụ cho cộng đồng Trích văn kiện Đại hội XII của Đảng “Thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công thông qua xã hội hóa đối với những dịch vụ công cần thiết, như dịch vụ giáo dục và y tế, mà Nhà nước đang quản lý giá, phải minh bạch và bảo đảm công khai, các yếu tố hình thành giá; thực hiện giá thị trường theo lộ trình phù hợp nhưng phải tính đúng, tính đủ chi phí. Đồng thời, hỗ trợ cho người nghèo, cho đồng bào dân tộc thiểu số, cho đối tượng chính sách. Khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công, theo các hình thức đối tác công-tư.
Phải đảm bảo công bằng giữa các đơn vị sự nghiệp cung ứng dịch vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Đa dạng hình thức xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công lập như: cổ phần hóa; giao cộng đồng quản lý, cho thuê tài sản, cơ sở vật chất của Nhà nước để kinh doanh cung ứng dịch vụ công và thực hiện cơ chế đơn vị sự nghiệp công hoạt động như doanh nghiệp công ích”. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ công được thể hiện như sau: - Trực tiếp tổ chức thực hiện một số dịch vụ công: Nhà nước trực tiếp thực hiện cung ứng một số dịch vụ công thông qua các cơ quan tổ chức của mình lập ra. Nhà nước cần phải xác định và nghiên cứu rõ các dịch vụ nào cần thiết nhà nước phải trực tiếp làm, phạm vi đến đâu để tránh vượt quá với khả năng cho phép nhất là về tài chính và bộ máy nhân sự.
Hiện nay Nhà nước phân cấp mạnh cho các cấp chính quyền địa phương trực tiếp quản lý và thực hiện các loại dịch vụ công liên quan trực tiếp đến đời sống công dân, cộng đồng, đồng thời vừa đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội. Những loại dịch vụ quan trọng, đòi hỏi chất lượng và trình độ cao thì Chính phủ, các Bộ trực tiếp thực hiện cung cấp. - Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách cho mỗi loại dịch vụ công: Nhằm để đảm bảo sản phẩm hàng hóa dịch vụ công đến tận tay người được hưởng thụ, khắc phục sự thất thoát từ những tổ chức thực hiện dịch vụ. Trong một số lĩnh vực cần nghiên cứu cơ chế cấp ngân sách dịch vụ thẳng cho đối tượng được hưởng dịch vụ, bỏ cơ chế cấp qua tổ chức thực hiện.
- Không ngừng cải tiến cung cấp dịch vụ công: Nhà nước phải không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ công ở tầm vĩ mô. Đối với tầm vĩ mô, việc cải tiến được hướng trước hết vào việc xác định rõ các loại dịch vụ công cộng nào thực sự là dịch vụ nhà nước cần phải đảm bảo cung cấp cho xã hội, mức độ can thiệp của Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp qua việc cung cấp tài chính hay chỉ đơn giản là đề ra các tiêu chuẩn về chất lượng, giá cả. Chính phủ, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm trong quản lý và tổ chức cung ứng từng loại dịch vụ công. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phúc lợi xã hội Phúc lợi xã hội được biểu thị qua công thức sau (Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài, 2010): W = F(UA, UE) Từ phương trình trên, ta thấy giá trị phúc lợi xã hội gia tăng khi hoặc UA tăng hoặc UE tăng. Nghĩa là xã hội sẽ tốt hơn khi có bất kỳ các thành viên nào đó có mức phúc lợi xã hội được cải thiện. Cũng như hàm thỏa dụng của một cá nhân về hàng hóa tạo nên tập hợp các đường bàng quan của hàng hóa đó, thì hàm phúc lợi xã hội cũng tạo nên tập hợp các đường bàng quan, phản ánh mối liên hệ về mức thỏa dụng của mọi người trong xã hội. - Phúc lợi xã hội theo thuyết vị lợi: Mục tiêu xã hội tối đa tổng số mức thỏa dụng của các cá nhân: SWF = U1 + U2 + U3 + .+ UN Mức thỏa dụng của các cá nhân có trọng số bằng nhau và cộng lại ta có tổng phúc lợi xã hội.
Hàm số này hàm ý, chúng ta nên chuyển từ người này sang người khác, miễn là thỏa dụng có được của người này cao hơn sự mất đi thỏa dụng của người khác. Nói khác đi, xã hội có sự khác nhau giữa một đơn vị thỏa dụng đối với người nghèo và một đơn vị thỏa dụng đối với người giàu. Như vậy xã hội có mất công bằng không? Câu trả lời là không. Bởi vì hàm phúc lợi được định nghĩa theo thuật ngữ thỏa dụng, chứ không phải là đôla.
Với hàm phúc lợi xã hội theo thuyết vị lợi, xã hội không có khác biệt giữa cung cấp một đôla cho người giàu và một đôla cho người nghèo; mà xã hội có sự khác biệt giữa cung một một đơn vị thỏa dụng cho người giàu và cung cấp một đơn vị thỏa dụng cho người nghèo.