Tổng quan nghiên cứu

Sông Đào có chiều dài toàn tuyến khoảng 33 km, giữ vai trò huyết mạch kết nối giữa sông Hồng và sông Đáy, đồng thời là nguồn cung cấp nước thô duy nhất cho Nhà máy nước Nam Định với công suất 75.000 m3/ngày đêm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của hơn 98% dân số thành phố Nam Định. Tuy nhiên, trước sức ép từ mật độ dân số lên tới 5.381 người/km2 cùng tốc độ phát triển công nghiệp nhanh chóng, chất lượng nước mặt sông Đào đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng do tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa qua xử lý triệt để, đặc biệt từ trạm bơm Kênh Gia với lưu lượng 43.000 m3/h và trạm bơm Quán Chuột với 13 tổ máy công suất 1,2 m3/s mỗi máy.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt sông Đào theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT, nhận diện các nguồn phát thải trọng điểm, phân tích những bất cập trong cơ chế quản lý hiện hành và xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng (CBCM). Phạm vi không gian nghiên cứu bao trùm địa bàn thành phố Nam Định (diện tích 4.643,8 ha gồm 20 phường và 5 xã), tập trung thu thập số liệu quan trắc định kỳ giai đoạn 2010 - 2015 kết hợp khảo sát thực địa chuyên sâu từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập các chỉ số định lượng về mức độ vượt quy chuẩn của các chất ô nhiễm như COD vượt từ 1,8 đến 2,7 lần, dầu mỡ vượt từ 2 đến 9,5 lần, qua đó cung cấp cơ sở khoa học giúp giảm thiểu tải lượng ô nhiễm và huy động 100% sự sẵn sàng tham gia giám sát của cộng đồng dân cư địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai khung lý thuyết khoa học môi trường hiện đại. Thứ nhất là Lý thuyết tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach), trong đó con người và các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên được đặt ở vị trí trung tâm của quy trình ra quyết định, đảm bảo tính cân bằng sinh thái giữa bảo tồn chất lượng nước và phát triển kinh tế lưu vực sông. Thứ hai là Khung lý thuyết quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng (Community-Based Conservation Management - CBCM) kết hợp quy trình 9 bước tham gia của cộng đồng do Isobel W. Heathcote đề xuất và 4 chuẩn mực cấu trúc cộng đồng của Gene Barrett bao gồm: không gian cư trú, lợi ích kinh tế, luật tục đạo đức và bản sắc văn hóa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các nguyên tắc cốt lõi gồm: trao quyền hợp pháp cho người dân trong kiểm soát tài nguyên nước, đảm bảo sự công bằng xã hội, tôn trọng tri thức bản địa và thực thi bình đẳng giới. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm: "chất lượng nước mặt", "sức chịu tải môi trường", "đồng quản lý tài nguyên nước" và "đánh giá có sự tham gia của cộng đồng". Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn so sánh căn cứ vào Luật Bảo vệ Môi trường 2005, Luật Tài nguyên nước sửa đổi 2012, các tiêu chuẩn phân tích mẫu TCVN và Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan. Dữ liệu chất lượng nước được kế thừa từ chuỗi quan trắc định kỳ của Trung tâm Quan trắc và Phân tích Tài nguyên Môi trường tỉnh Nam Định tại 3 vị trí trọng điểm: SĐ01 (thượng lưu tại xã Mỹ Tân, tần suất 6 lần/năm), SĐ02 (cách trạm bơm Kênh Gia 700m về phía hạ lưu tại xã Tân Thành, tần suất 4 lần/năm) và SĐ03 (bến đò Hải Lạng, xã Yên Phúc, tần suất 4 lần/năm).

Dữ liệu xã hội học được thu thập qua phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn bảng hỏi trên cỡ mẫu 60 hộ gia đình và làm việc trực tiếp với các cơ quan quản lý, doanh nghiệp ven sông. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified Random Sampling) được triển khai tại 8 địa bàn đại diện (6 phường: Trần Tế Xương, Vị Hoàng, Phan Đình Phùng, Cửa Đông, Trần Quang Khải, Cửa Nam thuộc hữu ngạn; 2 xã: Nam Phong, Nam Vân thuộc tả ngạn) với sự cân đối về cơ cấu giới tính (ưu tiên phụ nữ), độ tuổi và mức thu nhập. Các phương pháp phân tích phòng thí nghiệm tuân thủ nghiêm ngặt theo TCVN 6491-1999 (COD), TCVN 6001-1:2008 (BOD5), TCVN 6625:2000 (SS), TCVN 5070:1995 (tổng dầu mỡ), TCVN 6216:1996 (phenol) và TCVN 6187-1996 (Coliform). Dữ liệu sau đó được xử lý, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức qua ma trận SWOT và phân tích vai trò các bên liên quan thông qua sơ đồ Venn nhằm đảm bảo cơ sở khoa học cho mô hình đồng quản lý. Toàn bộ quá trình khảo sát, lấy mẫu và xử lý dữ liệu được tiến hành từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát xã hội học ghi nhận 100% số hộ gia đình điều tra có nhu cầu sử dụng nước sông Đào, trong đó 100% sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông qua nguồn cấp nước máy đô thị, 38% sử dụng trực tiếp để tưới tiêu vườn cây và chăn nuôi, và có tới 25% hộ gia đình vẫn còn thói quen giặt giũ hoặc lấy nước trực tiếp từ sông. Về phát sinh và xử lý nước thải, 100% hộ dân phát sinh nước thải sinh hoạt nhưng chỉ có 52% số hộ được kết nối vào hệ thống cống ngầm của thành phố, trong khi 48% số hộ (chủ yếu tập trung ở khu vực tả ngạn sông Đào) phải xả thải trực tiếp ra cống rãnh hở, ao hồ rồi tự chảy ra sông Đào.

Kết quả phân tích mẫu nước quan trắc giai đoạn 2010 - 2015 cho thấy hàm lượng COD trung bình tại các vị trí quan trắc liên tục vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2 từ 1,8 đến 2,7 lần. Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) vượt giới hạn cho phép từ 1,1 đến 1,6 lần do ảnh hưởng của lượng phù sa thượng lưu kết hợp xả thải ven bờ. Đối với thông số tổng dầu mỡ, mức độ ô nhiễm gia tăng mạnh trong giai đoạn 2011 - 2013, đạt đỉnh điểm vượt quy chuẩn gấp 9,5 lần (0,19 mg/l) vào năm 2013, trước khi giảm xuống mức vượt 2 lần (0,04 mg/l) vào năm 2014. Đáng chú ý, nồng độ vi sinh Coliform tại vị trí hạ lưu trạm bơm Kênh Gia và trạm bơm Quán Chuột luôn vượt xa ngưỡng quy định, thể hiện mức độ nhiễm bẩn hữu cơ từ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý.

Đánh giá nhận thức cộng đồng chỉ ra rằng 98% người dân xác định khu dân cư là nguồn gây ô nhiễm chính, tiếp theo là các nhà máy công nghiệp (92%) và bệnh viện (90%). Biểu hiện ô nhiễm dễ nhận thấy nhất theo người dân là độ đục (25%), màu sắc (22%) và mùi hôi (12%). Về tầm quan trọng, 76,7% người dân đánh giá sông Đào giữ vai trò rất quan trọng, 23,3% đánh giá quan trọng và 100% hộ gia đình khẳng định sẵn sàng tham gia các lớp tập huấn, đóng góp ý kiến và thực hiện mô hình bảo vệ dòng sông dựa vào cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm chất lượng nước sông Đào là hệ quả tổng hợp của áp lực gia tăng dân số đô thị và tốc độ công nghiệp hóa tại thành phố Nam Định. Dữ liệu quan trắc phân hóa rõ rệt theo không gian và thời gian. Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ đường và bảng ma trận chất lượng nước theo chiều dài dòng chảy, khu vực thượng lưu (điểm SĐ01) luôn có chất lượng tốt hơn đáng kể so với khu vực hạ lưu tiếp nhận nước thải (điểm SĐ02). Điểm SĐ02 đóng vai trò là "điểm nóng ô nhiễm" do hứng chịu trực tiếp nước thải chưa qua xử lý từ hệ thống cống rãnh thành phố và một phần nước thải công nghiệp từ Khu công nghiệp Hòa Xá thông qua trạm bơm Kênh Gia.

Khi so sánh diễn biến theo thời gian qua các đồ thị cột giai đoạn 2010 - 2015, chất lượng nước mặt có dấu hiệu cải thiện rõ rệt từ sau tháng 6/2013. Nguyên nhân then chốt là do thành phố đã hoàn thành tuyến kênh xả T3-11 dài 1,3 km với tổng vốn đầu tư 35 tỷ đồng, chuyển hướng tiêu thoát nước thải của trạm bơm Quán Chuột xả thẳng ra sông Hồng thay vì xả vào sông Đào như giai đoạn trước. Thông số phenol cũng ghi nhận xu hướng giảm tích cực, từ mức vượt chuẩn trong giai đoạn 2011 - 2013 về mức đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2 trong năm 2014 và 2015 nhờ vào việc tăng cường thanh tra các cơ sở dệt nhuộm và sản xuất hóa chất.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các báo cáo môi trường lưu vực sông tại vùng Đồng bằng sông Hồng, khẳng định rằng ô nhiễm hữu cơ và vi sinh là thách thức phổ biến ở các đô thị loại I. Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý không chỉ nằm ở cơ sở hạ tầng thu gom mà còn ở sự thiếu vắng cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan và chưa phát huy được quyền lực giám sát của người dân địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm kiểm soát ô nhiễm và thiết lập mô hình quản lý nước sông Đào bền vững:

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật thu gom và xử lý nước thải. Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cần phối hợp cùng Sở Xây dựng triển khai dự án xây dựng hệ thống cống gom nước thải kín tách riêng nước mưa cho 48% số hộ dân thuộc khu vực tả ngạn sông Đào (xã Nam Phong và Nam Vân), hướng tới mục tiêu giảm 60% lượng nước thải sinh hoạt xả thẳng ra mương tiêu hở trước năm 2020.

Thứ hai, thiết lập mô hình Tổ tự quản bảo vệ môi trường sông Đào tại 8 xã, phường ven sông. Giao quyền kiểm tra, phát hiện và phản ánh các hành vi xả thải trái phép cho các tổ chức đoàn thể địa phương (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên). Mục tiêu đạt 100% tổ dân phố ven sông xây dựng được hương ước, quy ước tự quản môi trường nước, duy trì tần suất tuần tra 2 lần/tháng do UBND cấp xã, phường phê duyệt và chỉ đạo thực hiện.

Thứ ba, tăng cường kiểm soát và giám sát nguồn thải công nghiệp từ Khu công nghiệp Hòa Xá, Cụm công nghiệp An Xá và các cơ sở đóng tàu ven sông. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định cần ban hành quy định bắt buộc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục đối với các cơ sở có lưu lượng xả thải từ 50 m3/ngày đêm trở lên, đảm bảo 100% nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT trước khi đổ vào kênh tiêu chung. Target đến năm 2018 đưa chỉ số COD và dầu mỡ tại trạm bơm Kênh Gia về dưới ngưỡng cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2.

Thứ tư, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và quỹ bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng. Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Nam Định chủ trì xây dựng tài liệu tập huấn, đào tạo kỹ năng giám sát cộng đồng cho ít nhất 80% cán bộ cơ sở và đại diện hộ dân trong vòng 12 tháng, kết hợp trích 2% nguồn thu phí bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn để tái đầu tư cho các hoạt động truyền thông và khen thưởng giám sát của người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và quy hoạch đô thị (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng TN&MT thành phố Nam Định): Luận văn cung cấp bức tranh số liệu thực tế về các điểm xả thải, hiện trạng quá tải của trạm bơm Kênh Gia và phương pháp ứng dụng sơ đồ Venn để phân định rõ trách nhiệm giữa các phòng ban chuyên môn và chính quyền cơ sở trong quản trị lưu vực sông.

  2. Doanh nghiệp cấp nước và xử lý nước thải đô thị (Công ty Cổ phần Cấp nước Nam Định, các ban quản lý dự án thoát nước): Tài liệu cung cấp chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước mặt đầu vào tại điểm lấy nước SĐ01 và biến động nồng độ chất ô nhiễm theo mùa, giúp các kỹ sư tối ưu hóa công nghệ xử lý nước thô công suất 75.000 m3/ngày đêm và xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố ô nhiễm nguồn nước.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Phát triển Bền vững: Luận văn là hình mẫu thực nghiệm chuẩn xác về việc tích hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), ma trận SWOT và khung lý thuyết bảo tồn dựa vào cộng đồng (CBCM) vào giải quyết bài toán môi trường nước mặt cấp đô thị.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban đại diện cộng đồng dân cư: Cung cấp cẩm nang 9 bước chi tiết để xây dựng các dự án phát triển cộng đồng, thành lập nhóm tự quản môi trường nước và chuyển giao kỹ năng giám sát sinh thái cho người dân địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thực trạng chất lượng nước sông Đào đoạn qua thành phố Nam Định hiện nay đang ở mức độ nào? Nước sông Đào đang có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh rõ rệt khi so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2. Điển hình là hàm lượng COD vượt quy chuẩn từ 1,8 đến 2,7 lần, dầu mỡ từng vượt tới 9,5 lần và Coliform vượt ngưỡng tại các điểm xả thải, trong khi các chỉ tiêu kim loại nặng vẫn nằm trong giới hạn an toàn.

  2. Nguồn xả thải nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến dòng sông? Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là nước thải sinh hoạt đô thị và một phần nước thải công nghiệp chưa qua xử lý triệt để được xả qua trạm bơm Kênh Gia (công suất 43.000 m3/h), kết hợp với lượng nước thải từ 48% số hộ dân tả ngạn xả trực tiếp qua cống rãnh hở vào dòng sông.

  3. Vì sao phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng (CBCM) lại là giải pháp then chốt cho sông Đào? Vì phương pháp này biến người hưởng lợi thành chủ thể quản lý hợp pháp. Khảo sát chứng minh 100% người dân sẵn sàng tham gia bảo vệ nguồn nước. Sự giám sát thường xuyên của cộng đồng giúp bù đắp sự thiếu hụt nhân lực của cơ quan quản lý và ngăn chặn hiệu quả hành vi xả thải lén lút.

  4. Việc vận hành trạm bơm Quán Chuột có tác động như thế nào đến môi trường nước sông Đào? Từ tháng 6/2013, khi kênh xả T3-11 hoàn thành, nước thải từ trạm bơm Quán Chuột được chuyển hướng bơm thẳng ra sông Hồng thay vì xả vào sông Đào. Sự thay đổi này đã làm giảm đáng kể tải lượng ô nhiễm hữu cơ và dầu mỡ cho đoạn sông Đào chảy qua nội đô.

  5. Người dân địa phương cần làm gì để tham gia hiệu quả vào mô hình đồng quản lý? Người dân cần tham gia tích cực vào Tổ tự quản môi trường, thực hiện phân loại rác thải tại nguồn, không xả rác và nước thải chăn nuôi trực tiếp ra sông, đồng thời chủ động giám sát và thông báo kịp thời cho chính quyền các hành vi gây ô nhiễm của doanh nghiệp ven bờ.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt sông Đào qua chuỗi số liệu quan trắc 2010 - 2015, chỉ rõ các thông số COD, SS, Coliform và dầu mỡ vượt giới hạn QCVN 08:2008/BTNMT Cột A2.
  • Nhận diện chính xác điểm nóng ô nhiễm tại hạ lưu trạm bơm Kênh Gia do tiếp nhận nước thải sinh hoạt đô thị và công nghiệp chưa qua xử lý, đồng thời khẳng định sự cải thiện chất lượng nước sau khi trạm bơm Quán Chuột chuyển hướng xả thải sang sông Hồng.
  • Lượng hóa nhận thức xã hội học qua khảo sát 60 hộ dân, chứng minh 100% người dân đánh giá cao tầm quan trọng của dòng sông và sẵn sàng tham gia mô hình đồng quản lý tài nguyên nước.
  • Vận dụng thành công các công cụ PRA, ma trận SWOT và sơ đồ Venn để giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường nước.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình hoàn thiện hạ tầng và thể chế tự quản cộng đồng rõ ràng đến năm 2020.

Đóng góp khoa học và thực tiễn lớn nhất của luận văn là thiết lập khung phương pháp luận kết hợp giữa khoa học tự nhiên (quan trắc môi trường) và khoa học xã hội (sự tham gia của cộng đồng) trong quản lý lưu vực sông. Trong giai đoạn 2016 - 2020, các cấp chính quyền tỉnh Nam Định cần nhanh chóng thể chế hóa mô hình Tổ tự quản bảo vệ môi trường sông Đào và ưu tiên nguồn vốn hoàn thiện hệ thống cống ngầm gom nước thải tại khu vực tả ngạn. Hãy chủ động liên hệ và tham khảo chi tiết toàn văn luận văn tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội để ứng dụng hiệu quả mô hình này vào thực tiễn quản lý địa phương.