phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động khảo sát việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp tại các trường đại học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động khảo sát việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp tại Trường Đại học Nha Trang Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động khảo sát việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp tại Trường Đại học Nha Trang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHẢO SÁT VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng và sâu sắc, mỗi cá nhân có thể cảm nhận rõ sự thay đổi cả về đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội hiện đại. Sự chuyển biến này là thành quả của sự ra đời các công nghệ cao, xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức. Sự ra đời của Internet, các phương tiện truyền thông không ngừng phát triển khiến nguồn tri thức nhân loại tăng một cách chóng mặt, thế giới dường như gần gũi với nhau hơn, sự di chuyển các nguồn lực, ý tưởng từ nước này sang nước khác trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, các công nghệ sản xuất tiên tiến, các phương tiện sản xuất hiện đại ngày càng được áp dụng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong phạm vi cả nước. Tiến bộ về khoa học và công nghệ đang ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và nội dung lao động ở nước ta, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, có những ngành nghề cũ mất đi. Do đó, người lao động cần phải được bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức, kỹ năng mới.
Người lao động phải học thường xuyên, học suốt đời để có thể tiếp tục lao động trong điều kiện phát triển nhanh chóng và không ngừng của khoa học và công nghệ. Tiến bộ về khoa học và công nghệ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giảng viên đại học. Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, người giảng viên đại học phải có kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin, công nghệ dạy học, thành thạo ngoại ngữ, sử dụng thành thạo và làm chủ được các phương tiện dạy học hiện đại. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu và rộng, chúng ta đã là thành viên chính thức của WTO, SEAMEO; đã ký hiệp định ASEAN trong đó có việc công nhận văn bằng và trình độ đào tạo tương đương giữa các nước; đã tham gia đánh giá theo chuẩn PISA; đã ký kết và tham gia nhiều dự án song phương và đa phương về nguồn nhân lực… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nền kinh tế tri thức đã tạo nên sức bật của sự phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam chúng ta không thể đứng ngoài xu thế này, chúng ta phải tìm cách xây dựng hệ thống giáo dục đại học mềm dẻo, linh hoạt để tạo điều kiện thuận lợi cho người học được học thường xuyên, học suốt đời.
Quá trình đào tạo cũng phải đổi mới hướng tới sự phát triển năng lực người học để tạo ra sự sáng tạo của người lao động. Tất cả những đặc điểm xã hội nói trên đã đặt ra những thách thức cho giáo dục đại học nói chung và là nhiệm vụ được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập chung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến: Mối quan hệ giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo; Xu hướng giáo dục đại học trong giai đoạn mới, vấn đề việc làm và định hướng việc làm cho sinh viên để làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn. Mối quan hệ giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo Xu thế đào tạo trong giáo dục đại học hiện nay là chú trọng đến phát triển các năng lực và kĩ năng nghề nghiệp.
Trong hình thức đào tạo này, thị trường lao động là một mắt xích quan trọng và là một bộ phận chính yếu tham gia vào tất cả các hoạt động đào tạo của trường đại học bao gồm: Xây dựng chương trình, thực hiện chương trình, giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập, đánh giá kết quả đào tạo, sử dụng sản phẩm đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Chính vì thế, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo là một điều kiện cơ bản trong quá trình xây dựng và triển khai các hoạt động đào tạo tại mỗi cơ sở giáo dục đại học (Trường đại học) [4],[8],[14]. Thế giới việc làm (World of Work, Industry, Business1, Professional World, Workplace2) là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp nghề nghiệp trong mối quan hệ với chuyên ngành được đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học. Theo tác giả Phạm Thanh Tùng và cộng sự (2009), thế giới việc làm (World of Work) là một khái niệm dùng để chỉ bộ phận của xã hội mà ở đó, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường sẽ tìm kiếm môi trường làm việc của mình.
Nó bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, các cơ quan hành chính của nhà nước, các hợp tác xã sản xuất, các đơn vị hành chính sự nghiệp bao cấp hoặc có thu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế giới việc làm là khái niệm đề cập đến các đơn vị, tổ chức, các cơ quan ngoài xã hội hiện đã, đang và sẽ tuyển dụng sinh viên sau tốt nghiệp ra trường. Các đơn vị này bao gồm: Các cơ quan quản lý nhà nước các cấp có liên quan đến ngành nghề, các viện, trung tâm nghiên cứu, các trường đào tạo, các công ty sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm ngành nghề thuộc nhà nước, tư nhân; các hợp tác xã sản xuất kinh doanh; các tổ chức phi chính phủ. Theo Phạm Thanh Tùng và cộng sự (2009) thì: “Môi trường đào tạo là khái niệm dùng để chỉ bộ phận trong xã hội mà ở đó, sinh viên sẽ chuẩn bị những hành trang cần thiết như kĩ năng, thái độ, yêu cầu nghề nghiệp được đặt ra từ thị trường lao động.
Mối quan hệ hợp tác giữa thế giới việc làm với môi trường đào tạo được hiểu như là những giao dịch giữa các trường đại học và thế giới việc làm vì lợi ích của cả hai bên và của xã hội. Theo nghiên cứu của Trung tâm Science to Business Research Centre (SBRCG, 2011), mô hình mối quan hệ hợp tác giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo (hay còn gọi là mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp, (University – Business Cooperation) được phát triển theo trình tự hình 1. Theo nghiên cứu của SBRCG (2011), các bên tham gia trong mối quan hệ hợp tác giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo bao gồm: Nhà nước, các cơ sở giáo dục đại học, giới doanh nghiệp, các bên trung gian. - Nhà nước trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà trường bao gồm tất cả các cấp chính quyền từ địa phương tới trung ương.
Các cấp chính quyền sẽ đóng vai trò là các nhà hoạch định chính sách, định hướng và tạo ra cơ chế cho các mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp với nhà trường. Ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT là cơ quan đại diện chính quyền cấp Trung ương và các Sở GD&ĐT là cơ quan đại diện chính quyền ở cấp địa phương của ngành giáo dục. Các cơ quan này đóng vai trò là người thúc đẩy, hỗ trợ sự phát triển của các mối quan hệ giữa thế giới việc làm và môi trường đào tạo. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp (Nguồn: Điều chỉnh từ báo cáo nghiên cứu của SBRCG, 2011) - Những thành phần tham gia vào mối quan hệ hợp tác nhà trường – doanh nghiệp tại cơ sở đào tạo đại học bao gồm: Nhà quản lý trường đại học, các chuyên gia làm việc tại/với doanh nghiệp và giới học thuật (GS, nhà NC, GV). Cơ sở đào tạo đại học đóng vai trò chính yếu trong việc thiết lập và duy trì có hiệu quả mối quan hệ giữa nhà trường với thế giới việc làm. - Khối các doanh nghiệp (DN), tổ chức nghề nghiệp khác bao gồm: Các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân; các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước; các tổ chức phi chính phủ; các tổ chức phi lợi nhuận. Các doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp sẽ tham gia vào tất cả mọi hoạt động trong quá trình đào tạo từ khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng chương trình, triển khai thực hiện chương trình, quản lí vận hành chương trình, giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập, trao đổi kiến thức chuyên môn, đánh giá sinh viên, đánh giá, điều chỉnh chương trình.
- Các nhóm trung gian trong mối quan hệ doanh nghiệp – nhà trường bao gồm: Các hiệp hội doanh nghiệp/nghề nghiệp, các cơ quan phát triển vùng, phòng thương mại và công nghiệp. Các nhóm trung gian có nhiệm vụ chính là kết nối tổ chức, doanh nghiệp nghề nghiệp với các trường đại học. Cũng theo nghiên cứu SBRCG (2011), mối quan hệ hợp tác doanh nghiệp với trường học chịu tác động bởi: Các yếu tố tình huống/trạng thái; các cơ chế hỗ trợ; các rào cản, các yếu tố thúc đẩy. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các yếu tố tình huống tác động tới mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp bao gồm: Đặc điểm ngành nghề đào tạo, quy mô, hình thức sở hữu, độ tuổi của doanh nghiệp, vị trí địa lý của nhà trường và doanh nghiệp, đặc điểm tính cách, độ tuổi của người đứng đầu nhà trường và doanh nghiệp.
- Cơ chế hỗ trợ từ cấp hệ thống (cơ quan quản lý nhà nước) đến các trường đại học thường bao gồm 4 trụ cột chính: (1) Định hướng chiến lược, (2) Cơ chế và cách tiếp cận đào tạo, (3) Hành động, (4) Những điều kiện chung. Mức độ phát triển của bốn trụ cột này ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và phạm vi hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.