Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nƣớc về khai thác khoáng sản; Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về hoạt động khai thác Than trên địa bàn quản lý của thị xã Đông Triều; Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh quản lý nhà nƣớc về hoạt động khai thác Than trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. download by : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Cơ sở lý luận và quản lý nhà nƣớc đối với khai thác khoáng sản 1. Một số khái niệm về quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản 1.
Khái niệm về tài nguyên khoáng sản *Tài nguyên Theo nghĩa rộng tài nguyên gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lƣợng, thông tin có trên Trái đất và trong vũ trụ mà con ngƣời có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của nhân loại. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, đƣợc hình thành, tồn tại trong tự nhiên và tất cả những gì thuộc về thiên nhiên mà con ngƣời có thể khai thác, sử dụng thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình. Tài nguyên thƣờng đƣợc phân thành tài nguyên thiên nhiên gắn liên với các nhân tố thiên nhiên và tài nguyên con ngƣời gắn liên với nhân tố con ngƣời và xã hội. Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống con ngƣời và thế giới động vật.
Tài nguyên thiên nhiên là một phần của các thành phần môi trƣờng nhƣ rừng cây, đất đai, nguồn nƣớc, khoáng sản, cùng tất cả các loài động thực vật khác. Tài nguyên thiên gồm: Tài nguyên vĩnh viễn nhƣ năng lƣợng mặt trời, đây là một nguồn đến từ nguồn chính không bao giờ hết; Tài nguyên không phục hồi tồn tại trong kho dự trữ đƣợc xác định trong những chỗ thay đổi trong vỏ trái đất mà mỗi loài đƣợc cung cấp cho quá trình tự nhiên hoặc đƣợc cung cấp rất lâu mà chúng đƣợc dùng. Theo quan điểm kinh tế, các tài nguyên trên đƣợc xem nhƣ cạn kiệt nếu khai thác không hợp lý; Tài nguyên có thể phục hồi là nguyên tài nguyên có thể cạn kiệt trong thời gian ngắn nếu đƣợc sử dụng nhƣng sẽ đƣợc thay thế qua một quá trình lâu dài [9]. download by : skknchat@gmail.com 6 Theo bản chất tự nhiên thì tài nguyên bao gồm: Tài nguyên khoáng sản: là nguồn liệu tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ và phần lớn nằm trong lòng đất.
Quá trình hình thành loại tài nguyên này có liên quan mật thiết đến lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong một thời gian dài hàng nghìn năm, có khi hàng trăm triệu năm. Tài nguyên năng lƣợng là một dạng tài nguyên vật chất xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là năng lƣợng mặt trời và năng lƣợng lòng đất. Năng lƣợng mặt trời tồn tại ở dạng chính là bức xạ mặt trời, năng lƣợng sinh học, năng lƣợng chuyển động của khí quyển và thủy quyển, năng lƣợng hóa thạch; Năng lƣợng lòng đất biểu hiện ở các nguồn địa nhiệt, lửa và năng lƣợng phóng xạ. Tài nguyên đất là một hỗn hợp phức tạp bao gồm các hợp chất vô cơ, các mảnh vụn hữu cơ đã và đang bị phân ra, nƣớc, không khí và vô số các vi sinh vật đang sinh sống trong đó.
Đồng thời, đất còn là môi trƣờng sống của con ngƣời và hầu hết sinh vật trên cạn, là nền móng cho toàn bộ các công trình xây dựng phục vụ hoạt động kinh tế và xã hội. Tài nguyên nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên trái đất. Nƣớc là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp. Nƣớc rất cần cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cho sinh hoạt của con ngƣời.
Nƣớc còn đƣợc coi là một khoáng sản đặc biệt vì nó tàng trữ một nguồn năng lƣợng lớn và lại hòa tan nhiều vật chất có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con ngƣời. Tài nguyên rừng là một hệ sinh thái phong phú nhất có trên mặt đất. Ở đó, các loài thực vật đóng vai trò nhƣ một nhà máy khổng lồ cung cấp các chất hữu cơ, cung cấp oxy và điều hòa khí hậu. Rừng cò là một guồng máy tự điều chỉnh lƣu lƣợng nƣớc rất hiệu quả trên trái đất.
Nhƣ vậy, rừng có ý nghĩa trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trƣờng. download by : skknchat@gmail.com 7 Tài nguyên biển là một tài nguyên vô tận mà trời phú cho con ngƣời. Các nguồn lợi hải sản quan trọng phải kể đến là cá, tôm, cua, rong biển. Tài nguyên khí hậu, cảnh quan bao gồm các yếu tố về thời tiết, khí hậu và địa hình cảnh quan.
Địa hình cảnh quan là một dạng tài nguyên mới với đất đại, rừng xanh, động thực vật, nƣớc và không khí hợp thành nguồn tài nguyên môi trƣờng thống nhất. Nó không những là nền tảng để phát triển công nghiệp du lịch mà còn đem lại sự hƣởng thụ về tinh thần và tâm lí cho con ngƣời, duy trì trạng thái cân bằng, cung cấp nguồn nguyên liệu sản xuất. *Khoáng sản. - Khoáng sản: Là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.
Khoáng sản tích tụ vật chất dƣới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con ngƣời có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày". Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, việc khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trƣờng sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con ngƣời. Sự tích tụ của khoáng sản còn gọi là khoáng sàng, trong trƣờng hợp chiếm một diện tích lớn là các vùng mỏ, bồn hay bể.
Phân loại tài nguyên khoáng sản theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nƣớc khoáng). Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất) Va ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất). Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy; Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch bao gồm dầu mỏ, hơi đốt, đá phiến dầu, than bùn, than,…; Khoáng sản phi kim: Bao gồm các dạng vật liệu xây dựng nhƣ đá download by : skknchat@gmail.com 8 vôi, cát, đất sét,…; đá xây dựng nhƣ đá hoa cƣơng v.v và các khoáng sản phi kim khác; Khoáng sản hay quặng: Bao gồm các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại quý; Nguyên liệu đá màu bao gồm ngọc thạch anh (jasper), roholit, đá mã não (agat), onyx, canxedon, charoit, nefrit,… và các loại đá quý nhƣ kim cƣơng, ngọc lục bảo, hồng ngọc, xa-phia; Thủy khoáng: Bao gồm nƣớc khoáng và nƣớc ngọt ngầm dƣới đất; Nguyên liệu khoáng-hóa: Bao gồm apatit và các muối khoáng khác nhƣ photphat, barit, borat,… Dựa trên trạng thái vật lí phân ra: Khoáng sản rắn: nhƣ quặng kim loại; Khoáng sản lỏng: nhƣ dầu mỏ, nƣớc khoáng; Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ. - Khai thác khoáng sản: Là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan.
Là hoạt động có tính tổ chức, tính toán khoa học để lấy, đƣa các vật liệu (khoáng sản) địa chất từ lòng đất (thƣờng là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than) ra ngoài mặt bằng. Các vật liệu đƣợc khai thác từ mỏ khoáng sản nhƣ: Than, kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, kim cƣơng, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat… Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc đƣợc tạo ra trong phòng thí nghiệm, nhà máy đều đƣợc khai thác từ mỏ khoáng sản. Khai thác khoáng sản ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (Than, dầu mỏ, khí thiên nhiên…). Việc khai thác khoáng sản tùy thuộc vào kiến tạo địa chất của từng loại khoáng sản để lựa chon phƣơng pháp và công nghệ khai thác (Lộ thiên, hầm lò,.), sử dụng đồng bộ thiết bị, đào tạo trình độ kiến thức nguồn lao động,.
Mục đích khai thác triệt để tài nguyên đã đƣợc quy hoạch khai thác, không để thất thoát, tổn thất lãng phí, nhằm đáp ứng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh năng lƣợng, trật tự xã hội, quốc phòng, chính trị quốc gia. *Đặc điểm về tài nguyên khoáng sản Việt Nam Hiện nay, các nhà địa chất đã phát hiện trên đất nƣớc ta có gần 5.000 mỏ và điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau. Những loại khoáng download by : skknchat@gmail.com 9 sản trữ lƣợng lớn đáng kể là dầu khí (tính về sản lƣợng khai thác hàng năm, Việt Nam đứng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaisia), than khoáng, urani, địa nhiệt, quặng nhôm, đất hiếm, titan, wolfram, crôm, sắt, mangan, đồng, vàng, bạc, nickel, thiếc. Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 nƣớc ta đã phát hiện nhóm đã quý ruby, saphia, peridot.
với trữ lƣợng không lớn. Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An đƣợc thế giới đánh giá có chất lƣợng cao đạt chất lƣợng quốc tế, tƣơng đƣơng với ruby nổi tiếng của Myanmar [19]. Nếu so sánh tiềm năng khoáng sản Việt Nam với các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới thì có thể xếp nƣớc ta vào hàng các nƣớc có tiềm năng khoáng sản đáng kể. Đặc điểm đáng chú ý về tài nguyên khoáng sản của nƣớc ta: Thứ nhất, Nƣớc ta không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lƣợng.
Dầu khí chỉ đảm bảo khai thác đƣợc khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cƣờng tìm kiếm thăm dò. Than biến chất cao với trữ lƣợng đã đƣợc đánh giá đạt hàng tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế của đất nƣớc. Than biến chất thấp ở dƣới sâu đồng bằng Sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên đến vài trăm tỷ tấn nhƣng độ sâu hàng ngàn mét dƣới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, an ninh xã hội và môi trƣờng.