CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ I. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm nhân thọ Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về BHNT. Xét trên những phương diện khác nhau có thể đưa ra được những khái niệm khác nhau về BHNT.
Trên phương diện pháp lý, BHNT là bản hợp đồng thể hiện sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Trên phương diện kỹ thuật, BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc vào sinh mạng và tuổi thọ của con người. Cũng giống như các loại hình bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm con người phi nhân thọ… BHNT có những vai trò chủ yếu sau: Thứ nhất, BHNT góp phần ổn định đời sống nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm.
Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao, nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều gia đình và cá nhân đã trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết, hoặc bị thương tật vĩnh viễn. Khi đó gia đình phải chịu rất nhiều khoản chi phí tốn kém trong khi đó những khoản thu nhập thường xuyên lại bị giảm hoặc mất. Khó khăn hơn là một loạt các trách nhiệm và nghĩa vụ mà người chết chưa kịp hoàn thành như trả nợ, phụng dưỡng bố mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học… Dù rằng hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có Luận văn tốt nghiệp 4 Bộ môn: Kinh tế bảo hiểm thể trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời, trước mắt, chưa đảm bảo được lâu dài về mặt tài chính. Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn đó.
Thứ hai, BHNT góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Tùy theo đặc điểm ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, các chủ doanh nghiệp thường mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn… cho người làm công và những người chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra sự gắn bó ngay cả trong những lúc doanh nghiệp gặp khó khăn. Tránh cho doanh nghiệp sự bất ổn về tài chính khi mất người làm công chủ chốt. Mua bảo hiểm cho họ có thể đảm bảo cho doanh nghiệp khỏi sự thua thiệt về tài chính vì những tai nạn rủi ro gây nên mà vẫn có được những chi phí bù đắp, thay thế.
Thứ ba,BHNT thúc đẩy tập trung vốn cho phát triển kinh tế đất nước. Với đặc điểm của hoạt động BHNT là phí nộp trước, việc chi trả tiền bảo hiểm được thực hiện sau, khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Do vậy, các công ty BHNT có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn. Lượng vốn này sẽ được các công ty BHNT tính toán đầu tư, qua đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước.
Vốn đầu tư của các công ty BHNT thường rất lớn vì hoạt động BHNT mang tính dài hạn, do đó nguồn vốn cung cấp cho thị trường cũng là vốn dài hạn, thường là 10 năm trở lên. Nếu được đầu tư phát triển các vùng kinh tế chiến lược, xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ rất phù hợp và có hiệu quả. Thứ tư, BHNT còn là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân cư để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát. Khi nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu tiết kiệm hoặc đầu tư số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi.
Ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu này, vì vậy BHNT ra đời đã giúp các tổ chức, cá nhân thực hiện nhu cầu một cách có hiệu quả. Do đối tượng rộng, lại vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro, hơn nữa do cơ chế và cách thức đóng phí thuận lợi, cho nên BHNT có nhiều ưu điểm hơn hẳn tiền gửi tiết Luận văn tốt nghiệp 5 Bộ môn: Kinh tế bảo hiểm kiệm. Vì thế, việc thực hành tiết kiệm từ chi tiêu ngân sách gia đình để mua BHNT sẽ dễ dàng hơn. Điều này không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với từng gia đình mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội.
Thứ năm, BHNT góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội. Xét trên bình diện xã hội, bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Ở pháp hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng 1% lực lượng lao động. Ở Việt Nam, tính đến năm 2003, số lao động làm việc trong các công ty bảo hiểm đã lên đến 100.
Ngoài ra, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành nghề khác của đất nước. Bên cạnh đó, BHNT còn có tác dụng làm tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống tốt đẹp, tiết kiệm có kế hoạch… Với vai trò vô cùng to lớn của mình, BHNT đã ra đời từ rất sớm. Sự ra đời và phát triển của BHNT 2. Trên thế giới BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại cách đây khoảng gần 4500 năm.Tại đây người ta đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội cũng hỗ trợ tài chính cho thân nhân người chết.
Khoảng năm 450 sau Công Nguyên, đế quốc La Mã sụp đổ dẫn đến hầu hết các khái niệm của BHNT bị lãng quên. Tuy nhiên, tính chất của nó thì không hề thay đổi trong suốt thời Trung Cổ, nhất là đối với các phường hội thủ công và thương nghiệp. Các phường hội này đã lập nên nhiều hình thức bảo hiểm thành viên để bù đắp thiệt hại các vụ hỏa hoạn, lũ lụt, trộm cướp; ngoài ra nó còn bảo hiểm thương tật, tử vong thậm chí là bảo hiểm tù ngục (bảo hiểm cho trường hợp người mua bảo hiểm phải vào tù). Dịch vụ bảo hiểm ở Ấn Độ bắt nguồn từ bộ kinh Veda của nước này.
Ở Ấn Độ vào khoảng năm 1.000 trước Công Nguyên, hình thức "bảo hiểm cộng đồng" đã phát triển rất thịnh hành và người Aryan khi đó cũng đã tham gia rất nhiều vào hình thức bảo hiểm này. Tương tự với đế quốc La Mã cổ đại, trong giai đoạn truyền bá đạo Phật, người Ấn Độ đã lập nên nhiều hội mai táng để hỗ trợ cho các gia đình xây cất nhà cửa đồng thời che chở, đùm bọc các góa phụ và trẻ nhỏ. Luận văn tốt nghiệp 6 Bộ môn: Kinh tế bảo hiểm Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583 do công dân Luân Đôn là ông William Gybbon tham gia. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh.
Sau Cách mạng ánh sáng (Glorious Revolution) năm 1688, ở Châu Âu chỉ có Vương Quốc Anh công nhận tính pháp lý của BHNT. Nhờ vậy mà trong suốt ba thập kỷ sau Cách mạng ánh sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ. Vào năm 1735, Công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Charleston, thủ phủ bang South Carolina. Năm 1759, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Philadephia (Mỹ).
Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động nhưng lúc đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên nhà thờ của mình. Năm 1762, công ty BHNT Equitable ở nước Anh được thành lập và bán BHNT cho người dân. Ở Châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là: Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay.
Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất, năm 1985 doanh thu phí BHNT mới chỉ đạt 630,5 tỷ đôla, năm 1989 đã lên tới 1.210,2 tỷ và năm 1993 con số này là 1.647 tỷ, chiếm gần 48% tổng phí bảo hiểm. Hiện nay có 5 thị trường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, Anh và Pháp.2 Tại Việt Nam Trước năm 1945, ở Miền Bắc những người làm việc cho Pháp đã được tham gia BHNT và thời đó có một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Các hợp đồng này đều do các công ty bảo hiểm của Pháp cung cấp. Trong những năm 1979-1971 ở Miền Nam Việt Nam, công ty Hưng Việt đã triển khai một số sản phẩm như: An sinh giáo dục, bảo hiểm Trường sinh, bảo hiểm Tử kỳ kỳ hạn 5-10-20 năm.
Tuy nhiên, công ty này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn khoảng gần 2 năm, do đó hầu hết người dân chưa biết đến loại hình bảo hiểm này. Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước đã tạo ra nhiều chuyển biến cho xã hội. Nằm trong sự Luận văn tốt nghiệp 7 Bộ môn: Kinh tế bảo hiểm chuyển biến trên, năm 1987 Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu đề tài cấp Bộ "Lý thuyết về BHNT và sự vận dụng vào thực tế ở Việt Nam". Trong đề tài này, những lý thuyết cơ bản của ngành BHNT trên thế giới đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp, đồng thời họ phân tích các điều kiện triển khai BHNT tại Việt Nam trong tình hình kinh tế-xã hội những năm cuối của thập kỷ 80.
Tuy nhiên, trong thời gian này hầu như các điều kiện cần thiết để triển khai BHNT tại Việt Nan còn hạn chế (nền kinh tế còn kém phát triển, thu nhập của người dân thấp, tỷ lệ lạm phát không ổn định, điều kiện về mặt pháp lý còn hạn chế, thị trường tài chính chưa phát triển,…).