CHƯƠNG 1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Ngân hàng thương mại Theo Tô Ngọc Hưng (2014, trang 11), “NHTM là một trung gian tài chính chuyên thực hiện việc đưa người đi vay và người cho vay trong nền kinh tế gặp nhau” và “NHTM chuyển hoá những khoản tiền tiết kiệm, tài sản chưa sử dụng của một bộ phận khách hàng này đến tay những bộ phận khách hàng khác đang cần vay để sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng”.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2013, trang 25), “ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp, với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi (2017), “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, có thể thấy rằng các khái niệm về NHTM được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau. Trong phạm vi đề án, để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm về NHTM như sau: NHTM là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động HĐV, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ tài chính và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Huy động vốn tại ngân hàng thương mại Theo quan điểm Lê Văn Tư (2004), HĐV là việc các tổ chức tín dụng tập trung những giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh tế khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Nguyễn Hữu Tài (2009) định nghĩa: “HĐV là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng” Hồ Thị Phương Thảo (2021) cho rằng “HĐV là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn từ các cá nhân, tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức khác nhau trong khoảng thời gian nhất định để tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng.” Để phù hợp với đặc điểm và tính chất của đề án, cũng như phù hợp phạm vi nghiên cứu của đề án, tác giả sử dụng thống nhất khái niệm HĐV trong toàn bộ nội 8 dung đề án như sau: HĐV là một nghiệp vụ của NHTM trong đó ngân hàng tiếp nhận nguồn vốn từ các đối tượng là cá nhân hoặc tổ chức để cung cấp cho các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng. Quản lý huy động vốn của ngân hàng thương mại Theo Trần Thị Minh Ngọc (2018), quản lý HĐV trong các NHTM là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát hoạt động huy động vốn nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Phan Diệp Hằng (2020) cho rằng “Quản lý HĐV trong NHTM là quá trình tác động vào việc đưa ra quyết định quản lý, định hướng hoạt động kinh doanh trong NHTM, nhằm thực hiện và hoàn thành các mục tiêu trong hoạt động HĐV, quản lý HĐV đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp cho ngân hàng hoạt động ổn định, có định hướng và tạo sự an toàn trong thanh khoản, phát triển lâu dài.” Theo Trần Thị Vượng (2020), “Quản lý HĐV trong NHTM là quá trình tác động vào các cá nhân trong ngân hàng, nhằm thực hiện và hoàn thành các mục tiêu trong hoạt động HĐV” và “là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát hoạt động HĐV nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Như vậy, có thể thấy nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý HĐV tại NHTM nhưng với những khía cạnh khá tương đồng. Trong phạm vi đề án này, khái niệm về quản lý HĐV tại NHTM được thống nhất hiểu là: Tổng hợp các tác động của chủ thể quản lý đối với việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát hoạt động HĐV của ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh nhất định. Phân định nội dung nghiên cứu về quản lý huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.
Mục tiêu của quản lý huy động vốn đối với hoạt động của ngân hàng thương mại NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc thù với sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Tuy nhiên, NHTM vẫn mang đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nói chung, đó là luôn cần huy động nguồn vốn dồi dào phục vụ quá trình kinh doanh. Vì vậy, quản lý HĐV được thực hiện nhằm mục tiêu sau: Thứ nhất, có được nguồn vốn chi phí thấp nhưng chủ động và cơ cấu về thời gian phù hợp. Việc chủ động được nguồn vốn giúp cho ngân hàng có thể chủ động trong nhiều hoạt động của mình.
Bất cứ NHTM nào chủ động được nguồn vốn mạnh và cơ cấu hợp lý thì ngân hàng đó sẽ có thể xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động kinh doanh một cách chủ động và quyết liệt. Nếu nguồn vốn ngân hàng sở hữu bấp bênh về lượng vốn, cơ cấu vốn không hợp lý, dễ dẫn tới tình trạng sử 9 dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các hợp đồng vay vốn dài hạn, hoặc sử dụng vốn dài hạn để tài trợ cho các hoạt động vay vốn ngắn hạn. Nếu hiện trạng này xảy ra thì ngân hàng sẽ bị rơi vào tình thế sử dụng vốn không hiệu quả. Thêm vào đó, quản lý HĐV tốt có thể giúp NHTM giảm chi phí vốn đến mức thấp nhất.
Giả sử NHTM có nguồn vốn mạnh, cơ cấu hợp lý nhưng mức lãi suất HĐV cao, tuy có thể thu hút khách hàng gửi vốn nhưng sẽ làm giảm lợi nhuận thu về của ngân hàng. Thứ hai, điều hành hiệu quả hoạt động HĐV. Tuỳ thuộc vào chi phí và rủi ro của từng nguồn vốn mà NHTM sẽ lựa chọn nguồn vốn tiền gửi hay phí tiền gửi. Đối với những nguồn vốn được huy động bằng chi phí thấp thì thông thường sẽ kèm theo rủi ro cao và ngược lại.
Cụ thể như nguồn vốn từ tiền gửi thanh toán và vốn từ tiền gửi tiết kiệm là những nguồn vốn mà NHTM có được với chi phí thấp. Tuy nhiên, chỉ cần một biến động kinh tế xảy ra thì những nguồn vốn này có thể thay đổi, thậm chí thay đổi theo xu hướng tiêu cực với hoạt động kinh doanh của NHTM. Ngoài ra, đây là nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất, tức là lãi suất cao thì số dư tiền gửi tăng lên và ngược lại. Thay tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm bằng nguồn vốn huy động từ chứng chỉ tiền gửi thì dù chi phí NHTM bỏ ra cao hơn nhưng nguồn vốn lại ổn định hơn.
Thứ ba, đảm bảo tuân thủ các quy định của NHNN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Yếu tố về các quy định của NHNN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và trong hoạt động HĐV nói riêng là yếu tố tác động khá mạnh mẽ. Khi NHNN sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt thì NHTM buộc phải tăng huy động từ dân cư, và ngược lại. Do vậy, trường hợp chính sách tiền tệ thắt chặt, các NHTM sẽ đua nhau gia tăng các chính sách ưu đãi để tăng trưởng số vốn huy động.
Thứ tư, đảm bảo luôn có đủ nguồn vốn duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh. Đặc thù trong kinh doanh ngân hàng là luân chuyển vốn, là kinh doanh tiền tệ nên NHTM luôn cần tính toán, cân đối giữa chi phí huy động vốn và thu nhập từ các hoạt động sử dụng vốn. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho các NHTM cần phải quản lý vốn cho hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn được duy trì để phát triển các hoạt động kinh doanh. Thứ năm, quản lý và kiểm soát rủi ro trong hoạt động HĐV.
Như đã phân tích trước đó, chi phí HĐV luôn là yếu tố đi kèm với rủi ro. Thông thường nguồn vốn huy động với chi phí thấp thì rủi ro cao. Do vậy, để tiết giảm chi phí huy động vốn, ưu tiên huy động các nguồn vốn chi phí thấp thì NHTM cần phải quản lý và kiểm soát tốt rủi ro. Khi xem xét một nguồn vốn nào đó, NHTM luôn cân nhắc và tham khảo ý kiến chỉ đạo của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc về phương hướng 10 xử lý trong từng hoàn cảnh nhất định.
Qua đó, NHTM sẽ lựa chọn mức độ rủi ro, su đó sẽ điều chỉnh mức chi phí HĐV theo các mức độ rủi ro đã lựa chọn. Nguyên tắc quản lý huy động vốn của ngân hàng thương mại Quản lý HĐV của các NHTM cũng như các hoạt động quản lý khác, cần tuân thủ các nguyên tắc nhất định để đảm bảo hoạt động quản lý được diễn ra đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao. Trong trường hợp này, quản lý HĐV của các NHTM cần được thực hiện đảm bảo các nguyên tắc như: Thứ nhất, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động HĐV Mọi hoạt động của các cá nhân và tổ chức trong một quốc gia cần được pháp luật điều chỉnh, để hoạt động của quốc gia trở thành một thể thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu phát triển chung của đất nước. Đối với ngành tài chính ngân hàng, hoạt động của các ngân hàng nói chung và hoạt động HĐV nói riêng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về HĐV.
Trong đó, những quy định và hướng dẫn của NHNN về HĐV trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động HĐV của các NHTM, bao gồm cả các NHTM trong nước và các NHTM nước ngoài. Điều này đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng thống nhất với hoạt động của các tổ chức kinh tế khác trong thực hiện mục tiêu phát triển chung của đất nước. Thứ hai, quản lý HĐV của NHTM cần phù hợp với định hướng và chiến lược phát triển của ngân hàng. Mỗi ngân hàng có chiến lược phát triển riêng trong từng thời kỳ, phù hợp với những nguồn lực sẵn có và phù hợp với bối cảnh kinh tế của đất nước.
Hoạt động quản lý HĐV của NHTM cũng cần phải hướng tới những mục tiêu và định hướng đã được xác định đó, để mọi thành quả từ quản lý HĐV phục vụ đắc lực cho quá trình thực hiện mục tiêu phát triển của ngân hàng.