phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong có 3 chương: Chương l. Cơ sở lý luận về quản lý hoa ̣t đô ̣ng của Trung tâm TTKH & TLGK ở trường đại học. Thực trạng công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH & TLGK ở Học viện Chính trị Công an nhân dân Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH & TLGK ở Học viện Chính trị CAND.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƢ LIỆU GIÁO KHOA TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổ ng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Cách đây vài thế kỷ, thư viện đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập và nghiên cứu đến. Qua khảo sát cho thấy có một số nghiên cứu tiêu biểu sau: Đầu thế kỷ XIX (vào khoảng từ 1808-1892), nhà thư viện học người Đức M.Sretinge lần đầu tiên sử dụng từ “Thư viện học”.
Ở Liên Xô (trước đây), các nhà khoa học như A.Ripin; Parôxki… đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra các khái niệm về “Thư viện”, “Thư viện học”, “Khách thể của thư viện học”, “Đối tượng của thư viện học”,. Ở Mỹ có một số nhà khoa học đã nghiên cứu về sự hình thành và phát triển cũng như nghiên cứu những khía cạnh hoạt động của hệ thống thư viện đại học một cách công phu và nghiêm túc, đáng kể nhất là những tác phẩm như The Academic Library (thư viện học tập) của John Budd; The University Library in the United States (its Origins and Development) (Thư viện trường đại học ở Mỹ, nguồn gốc và sự phát triển) của Arthur Hamlin; New history of United State (Lịch sử mới của nước Mỹ) của Eric Foner. Ở các nước Phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Anh có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Ch.Macki về “thư viện so sánh”. Theo các tài liệu Anh, Mỹ thì khái niệm “Thư viện học so sánh và quốc tế” gồm những công việc sau: Tập hợp tư liệu sự kiện; Hoạt động thư mục và dịch thuật; Hoạt động trong phạm vi quốc tế; Hoạt động nghiên cứu khoa học và xuất bản.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ở Việt Nam Ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về thư viện, trong đó có những công trình nghiên cứu, những bài báo của tác giả Lê Văn Viết đề cập đến những vấn đề cơ bản của thư viện như: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các yếu tố cấu thành thư viện, về cách tổ chức, vận hành các loại thư viện khác nhau trên thế giới và trong nước. Tác giả Nguyễn Huy Chương đã nghiên cứu “Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống TT - TV đại học Mỹ, định hướng vận dụng một số kinh nghiệm vào thư viện đại học Việt Nam”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả vận dụng một số kinh nghiệm của thư viện đại học Mỹ vào quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống thư viện đại học Việt Nam.
Đặc biệt tác giả đã đưa ra một số giải pháp thúc đẩy và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động thông tin thư viện ở các trường đại học.24] Tác giả Nguyễn Văn Hành đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý trung tâm TT - TV, Đại học Quốc gia Hà Nội” đã đưa ra những phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới mô hình trung tâm TT-TV Đại học Quốc gia.18] Như vậy, ở Việt Nam công tác thư viện đã được các nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn thư viện ở Việt Nam. Những công trình này đóng góp đáng kể cho sự hình thành và phát triển của thư viện trong nước, nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học ở các trường ĐH. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và chức năng quản lý + Quản lý Từ khi loài người xuất hiện đã có sự phân công lao động, đây là dạng lao động mang tính đặc thù bao gồm việc tổ chức, điều kiển các hoạt động của con người, mọi hoạt động đều cần tới quản lý.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển Tiếng Việt “Quản lý là trông coi, gìn giữ theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định". Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tổ chức, điều khiển, chỉ huy của chủ thể quản lý đến khác thể quản lý một cách phù hợp nhằm làm cho tổ chức vận hành đại hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. Quá trình Quản và Lý là hai quá trình tích hợp, trong quá trình Quản phải có Lý và trong Lý phải có Quản để trạng thái của chúng ở thế cân bằng động và vận động chúng một cách phù hợp và hiệu quả tùy thuộc vào người quản lý nó.
Theo quan niệm truyền thống: Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý bằng cách vạch ra mục tiêu, tìm ra các biện pháp tác động để đạt được mục tiêu đã xác định. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều kiển hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Quản lý là quá trình tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu, mục đích của tổ chức đề ra. Quản lý là hoạt động của con người tác động vào người khác để phối hợp điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung.
Hơn nữa, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, tổ chức, phải chịu một sự quản lý chung để đạt được mục tiêu đã đề ra. Quản lý bao hàm nghĩa ý nghĩa rất rộng và phức tạp. Vì vậy, tùy theo cách tiếp cận mà ta có các quan niệm khác nhau về Quản lý như: - F. Taylor và Henri Fayol thường được xem như là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học.
Các ông đã khẳng định “Hoạt động quản lý ở bất kì tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin”. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.33] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ở nước ta, tác giả Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý giáo dục là được hiểu như việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa”. - Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr. - Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
- Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích với tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”. - Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”. Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển hay trì trệ của tổ chức mặc dù quản lý vừa khó khăn lại vừa phức tạp.
Nếu quản lý một cách đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức có thể khắc phục những hạn chế của mình, liên kế gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh của tổ chức. + Chức năng quản lý Trong quá trình quản lý, chức năng quản lý có vai trò và vị trí quan trọng trong việc duy trì và phát triển của tổ chức. Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý giáo dục đối với mỗi cấp độ khác nhau, vì vậy chức năng quản lý giáo dục và tầm quan trọng của mỗi chức năng cũng không hoàn toàn giống nhau bao gồm bốn chức năng chủ yếu, cơ bản sau: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kế hoạch hóa Kế hoạch hóa là một trong những nội dung được quy định trong chức năng quản lý, là khâu đầu tiên của một chu trình.
Mọi hoạt động quản lý đều được bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch. “Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đại được mục tiêu, mục đích đó”. Kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch và chỉ rõ các mục tiêu, bước đi, biện pháp thực hiện để đảm bảo đạt mục tiêu đã đề ra. - Tổ chức Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực hợp lý để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra.
Đồng thời tổ chức có nghĩa là tạo nên mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nếu quá trình tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể sử dụng, điều phối tốt các nguồn lực. Tổ chức có nghĩa là phải xây dựng cơ cấu phù hợp, xác định nhiệm vụ cụ thể, những quyền hạn của từng thành viên trong tổ chức. - Lãnh đạo - chỉ đạo Sau khi đã xây dựng kế hoạch, cơ cấu bộ máy đã hình thành thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức.