Chương 1: Cơ sở lí luận về thực tập và quản lí thực tập ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên Chương 2: Thực trạng quản lí thực tập của sinh viên ngành Kế toán Khoa Kinh tế tài chính, Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Điện Biên Chương 3: Biện pháp quản lí quản lí hoạt động thực tập cho sinh viên ngành Kế toán Khoa Kinh tế tài chính, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TẬP VÀ QUẢN LÍ THỰC TẬP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Ở nước ngoài vấn đề nghiên cứu thực hành, thực tập nhằm gắn kết chương giáo dục với đời sống đã sớm được chú ý, có thế kể đến những công trình như: - Wragg, T.
trong tác phẩm "Chương trình giảng dạy Cubic" (1997) đã cung cấp một mô hình để nỗ lực thực hiện "một tầm nhìn của tương lai", công nhận những nhu cầu ngày càng gia tăng của công dân trong học tập, một niềm tin rằng học tập (trẻ em) phải được lấy cảm hứng bởi một số ảnh hưởng, và cuối cùng là điều kiện cần thiết để xem các chương trình giảng dạy nhiều hơn so với chỉ một bộ sưu tập của các đối tượng và giáo trình. Chương trình giảng dạy cần có ba mức độ: chủ đề; qua ngoại khóa chủ đề và các vấn đề ảnh hưởng đến phát triển chung của người học và phương pháp giảng dạy và học tập có thể được sử dụng khác nhau. Chính việc nhấn mạnh "ngoại khóa chủ đề" và những ảnh hưởng đến phát triển chung thể hiện sự đề cao đến tính thực tế, thực hành và khả năng vận dụng những ảnh hưởng đó vào cuộc sống (thực tập và thực hiện) của người học [23]. Đó là những căn cứ để gắn chương trình giảng dạy lí thuyết với thực tế - thực hành và thực tập nhằm biện minh cho tính hiện thực của chương trình giảng dạy đáp ứng các nhu cầu lao động nghề nghiệp trong tương lai của người học và xã hội 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Đặc biệt, dự án "Sinh viên thực hành" [24]- chương trình lần đầu tiên được thành lập và đồng tài trợ bởi Bộ Giáo dục và Tôn giáo quốc gia và Liên minh châu Âu tại đại học Aristotle trong thời kỳ 1996-1999, sau đó được tiếp tục trong các giai đoạn 1999-2000, 2000-2005 và 2005-2007 với mục tiêu: + Để đạt được phản hồi tương tác giữa giáo dục đại học và nơi làm việc.
+ Xây dựng được các lớp học nhằm gắn kết kiến thức thu nhận được với nơi làm việc có liên quan đến nghề nghiệp hoặc vị trí ngay cả ở các doanh nghiệp, đơn vị trong thời gian thực tập được thực hiện. + Tiếp thu kiến thức khoa học thông qua quá trình thực hành, thực tập khoa học chuyên nghiệp. + Thúc đẩy các kỹ năng thực hành và lương tâm nghề nghiệp của mình. + Để đạt được quá trình chuyển đổi tốt nhất của sinh viên từ học ở nhà trường đến sản xuất của các doanh nghiệp, tổ chức và các đơn vị.
+ Để học sinh quen giáo dục đại học với môi trường làm việc và nhu cầu làm việc, cũng như quan hệ lao động và thu nhập của họ. + Trong điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác sáng tạo của các lĩnh vực khoa học khác nhau và khuyến khích sáng kiến của sinh viên thực hành và sáng tạo chuyên nghiệp. + Để tạo ra một kênh chuyển giao thông tin tương tác giữa các viện giáo dục đại học và trên thế giới kinh doanh, do đó sự hợp tác giữa hai bên được tạo điều kiện thuận lợi. Như vậy, có thể khẳng định, cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn thì thế giới đã lưu ý nhiều đến vấn đề thực tiễn, thực hành và thực tập trong các chương trình giáo dục và đào tạo.
Điều đó cho thấy, vấn đề thực hành, thực tập trong hoạt động giáo dục cần được đánh giá đúng vị trí và vai trò trong việc đào tạo 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội. Điều này càng củng cố cho việc nghiên cứu vấn đề thực tập của luận văn là có cơ sở lí luận biện chứng. Ở Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội, gắn với quan điểm của Đảng và Nhà nước học cần đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nên việc nghiên cứu về thực tập không phải là điều xa lạ trong quá trình đào tạo[2]. Hoạt động thực tập luôn được các nhà giáo dục, các cơ sở đào tạo quan tâm, được đánh giá là quá trình hiện thực hóa các vấn đề lí thuyết và kỹ năng nghề nghiệp để sinh viên áp dụng vào công việc cụ thể trong lao động.
Tất cả các việc làm đó đều có chung mục đích là nâng cao chất lượng đào tạo, nhằm gắn với mục tiêu của nền giáo dục mới, học để biết, học để làm và học để chung sống. - Trong lịch sử vấn đề nghiên cứu có thể thấy tính thực tiễn qua các Hội thảo về đề tài: "Công tác thực tập sư phạm ở các trường sư phạm" do viện nghiên cứu Giáo dục tổ chức vào tháng 04/2008 nhằm đánh giá thực trạng công tác tổ chức thực tập sư phạm hiện nay của các trường sư phạm, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực tập. - Hội thảo khoa học "sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp" tổ chức 08/2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo do Nguyễn Thiện Nhân chủ trì đã nhấn mạnh ngành giáo dục khi xây dựng chương trình phải chú trọng đến thực hành, chuẩn kỹ năng nghề cho người học, các cơ sở đào tạo cần tăng cường tổ chức các loại hình hoạt động để người học có điều kiện rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, gắn đào tạo với điều kiện thực tế, tránh trường hợp phải đào tạo lại khi sinh viên ra trường vào làm việc trong môi trường lao động cụ thể. - Hội thảo quốc gia về đào tạo nhân lực công nghệ cao theo nhu cầu xã hội do hai bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức tháng 04/2009 đã chỉ rõ nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta hiện nay còn yếu về năng lực thực hành.
Vì vậy, trong phần kết luận chủ trì hội nghị 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ ông Nguyễn Thiện Nhân đã nhấn mạnh: "để có nguồn nhân lực chất lượng cần tạo mối quan hệ hợp tác hữu hiệu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu sớm hình thành chuỗi phòng thí nghiệm công nghệ, nhà nước có chính sách khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia làm công tác đào tạo như miễn tiền thuê đất, nhập khẩu; đưa chi phí hỗ trợ đào tạo vào giá thành tính thuế, hỗ trợ người học để học viên, sinh viên có nơi thực tập về năng lực nghề nghiệp". - Trong luận văn thạc sỹ "Thực trạng quản lí thực tập của Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen và một số giải pháp" (2004) của tác giả Bùi Trân Thúy, tác giả luận văn đã phân tích những vấn đề cơ bản xuất phát từ điều kiện của Trường Cao đẳng bán công Hoa Sen và chỉ ra một số giải pháp, tuy nhiên vấn đề nghiên cứu vẫn còn mang tính khái quát[17]. - Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thái Hưng: "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực tập sư phạm cho sinh viên thể dục Trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương" (2006) đã tiến hành khảo sát thực trạng nhưng đối tượng nghiên cứu mới dừng lại ở sinh viên ngành sư phạm thể dục, chưa khái quát được đặc điểm của sinh viên ngoài sư phạm, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển trường theo mô hình đào tạo đa ngành trong giai đoạn hiện nay (có sự thay đổi tên trường từ Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương thành Trường Cao đẳng Hải Dương)[8]. - Luận văn thạc sĩ của tác giá Lê Xuân Kha: “Biện pháp quản lí thực tập của sinh viên ngành Quản lí văn hóa, Khoa Xã hội, Trường Cao đẳng Hải Dương” (2012) đã đưa ra những biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả thực tập của sinh viên, mở rộng gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường - sinh viên với đơn vị thực tập để tăng hiệu quả đào tạo)[9].
Như vậy có thể nói, về vấn đề thực tập của sinh viên đã có một số tác giả nghiên cứu theo các khía cạnh riêng mang tính đặc thù, song số lượng các công trình nhìn chung chưa nhiều, riêng với đối tượng là sinh viên ngành Kế toán Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên tính đến thời điểm năm 2013 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ chưa có tác giả nào nghiên cứu. Do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài "Quản lí thực tập của sinh viên ngành Kế toán Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên" làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm quản lí, quản lí giáo dục 1.
Khái niệm quản lí Quản lý là một khái niệm cơ bản của đề tài, để từ đó xây dựng nên khái niệm công cụ của đề tài là quản lý thực tập sư phạm của sinh viên. Khi xem xét khái niệm công cụ này, chúng tôi xuất phát từ hai cách nhìn: - Tác giả ngoài nước bàn về quản lý. - Tác giả trong nước bàn về quản lý *. Các tác giả ngoài nước bàn về quản lý Bàn về khái niệm quản lý các nhà khoa học trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau.
ở đây chúng tôi xin nêu ra một số khái niệm của các nhà khoa học tiêu biểu, nhằm tìm ra điểm chung, sự thống nhất của các nhà khoa học về quản lý.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.