Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Thông tin đối ngoại 1. Khái niệm về hoạt động Thông tin đối ngoại Theo Từ điển Tiếng Việt [59, tr.953], “Đối ngoại” được định nghĩa là Chủ trương, chính sách về quan hệ mang tính quốc gia đối với nước khác; Giải thích nghĩa rộng hơn: “Đối ngoại” là “Đối với nước ngoài, bên ngoài; là đường lối, chính sách, sự giao thiệp của một Nhà nước, một Tổ chức” [59, tr.338]; “Thông tin” là “Truyền tin cho nhau để biết” [59, tr. Như vậy TTĐN có thể được hiểu: Là những tin tức, những thông báo về một sự vật một hiện tượng được con người tiếp nhận và chọn lựa một cách có chủ đích để truyền tải thông điệp ra bên ngoài lãnh thổ của một quốc gia với mục đích là cung cấp thông tin chính thống, xác thực và tích cực nhằm nâng cao hình ảnh của quốc gia đó trong mắt bạn bè quốc tế.
Theo các Điều 6, 7, 8, 9, 10 Nghị định số 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/09/2015 về Quản lý hoạt động TTĐN: TTĐN bao gồm thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam (Điều 6). Thông tin chính thức về Việt Nam là thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin về tình hình Việt Nam trên các lĩnh vực; thông tin về lịch sử Việt Nam và các thông tin khác (Điều 7). Thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam là thông tin về đất nước, con người, lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam (Điều 8). Thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam là thông tin về tình hình quốc tế trên các lĩnh vực, về quan hệ giữa Việt 13 nam với các nước và các thông tin khác nhằm thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh giữa Việt Nam với các nước, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam (Điều 9).
TTĐN còn bao gồm cả việc cung cấp thông tin giải thích, làm rõ, tức là những tư liệu, tài liệu, hồ sơ, lập luận nhằm giải thích, làm rõ các thông tin sai lệch về Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực (Điều 10). Tại Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của TTCP về Ban hành Quy chế QLNN về TTĐN, Điều 2 có nêu: TTĐN quy định tại Quy chế này là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam. Từ những kết quả tiếp cận trên có thể rút ra khái niệm: TTĐN là một hoạt động trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Là hoạt động cung cấp thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam tới cộng đồng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài và thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam dưới nhiều hình thức.
Hoạt động TTĐN của chính quyền cấp tỉnh được hiểu là việc chính quyền cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ TTĐN ở địa phương trên cơ sở các quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên và có nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ QLNN về TTĐN trên lãnh thổ. Khái niệm quản lý hoạt động Thông tin đối ngoại Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những quan điểm và tư duy khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.W Taylor (1856 - 1915) cho rằng: 14 Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo quan niệm của C.MÁC: Quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất.
Warren Bennis đã viết trong cuốn Learning to Lead: A Workbook on Becoming a Leader (Học cách lãnh đạo: Bài tập làm lãnh đạo): Quản lý nghĩa là thực hiện, hoàn thành, chịu trách nhiệm, thừa hành [31,tr. Cuốn giáo trình “Một số vấn đề về QLNN” của Trường cán bộ thanh tra Nhà nước đã đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích và theo ý chí của người quản lý hay là sự tác động chủ chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động môi trường [33 ,tr. Từ những kết quả tiếp cận trên, cách hiểu chung nhất thì: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động. Theo tiếp cận định nghĩa của một số giáo trình luật hành chính: QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
QLNN bao gồm: Toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm: Quản lý hoạt động TTĐN là hoạt động quản lý do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước tiến hành trên lĩnh vực TTĐN. 15 Nội dung QLNN về TTĐN được quy định tại khoản 2, Điều 4, Nghị định số 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động TTĐN bao gồm: Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình về hoạt động TTĐN. Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học về TTĐN; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho các lực lượng tham gia hoạt động TTĐN.
Quản lý, hướng dẫn, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí của Việt Nam; chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí của nước ngoài; cung cấp thông tin cho người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; cung cấp thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam. Hợp tác quốc tế về hoạt động TTĐN. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động TTĐN theo quy định của pháp luật. Sơ kết, tổng kết hoạt động TTĐN; đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TTĐN.Quan điểm của Đảng, Nhà nước về hoạt động Thông tin đối ngoại Công tác TTĐN là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng của Đảng và cũng là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài đồng hành cùng với sự phát triển của quốc gia, dân tộc.
Thực hiện công tác TTĐN là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trước hết là của các cơ quan chuyên trách TTĐN, các cơ quan báo chí, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư cùng sự quản lý của Nhà nước. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ: Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế [18,tr. Với việc mở rộng biên độ hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa công tác TTĐN. Để triển khai nhiệm vụ chính trị quan trọng này, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Kết luận số 16-KL/TW ngày 14/02/2012 về Chiến lược phát triển TTĐN giai đoạn 2011-2020, trong đó đã xác định: TTĐN là một nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác đối ngoại và công tác tư tưởng của Đảng.
16 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 06/08/2012 về việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển TTĐN giai đoạn 2011-2020. Tiếp đó, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1209/QĐ-TTg ngày 04/9/2012 Phê duyệt Quy hoạch phát thanh, truyền hình đối ngoại đến năm 2020, Quyết định nêu rõ:nêu rõ: Phát thanh, truyền hình đối ngoại là lực lượng chủ lực để thực hiện nhiệm vụ TTĐN. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 368/QĐ-Ttg ngày 28/2/2013 phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ về TTĐN giai đoạn 2013-2020 và Đề án nâng cao hiệu quả công tác TTĐN của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tới năm 2020. Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu: Tăng cường công tác TTĐN, hội nhập quốc tế, tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước [33, tr.
Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã ra Nghị quyết về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó xác định công tác TTĐN có nhiệm vụ nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam trên trường Quốc tế. Ngày 05/8/2020, TTCP đã ký ban hành Quyết định số 1191/QĐ-TTg phê duyệt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới và nâng cao năng lực công tác thông tin tuyên truyền và TTĐN góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, với mục tiêu tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và TTĐN nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam tới các nước có chung đường biên giới, góp phần xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Theo báo cáo của Bộ TT&TT, đến năm 2020, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 nước là thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực, có quan hệ 17 với hơn 500 tổ chức phi chính phủ.
Ở lĩnh vực ngoại giao, tính đến hết năm 2018, ĐCSVN đã có quan hệ với 247 chính đảng và phong trào ở 111 quốc gia trên thế giới, thường xuyên tổ chức, trao đổi và tổ chức các chuyến thăm chính thức, hữu nghị nhằm mở rộng quan hệ ngoại giao đa phương.