Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI 1. Tổng quan về công tác đối ngoại 1. Khái niệm về đối ngoại và các hình thức đối ngoại 1. Khái niệm về đối ngoại Lưu Văn Hy (2009) cho rằng nghĩa của từ đối ngoại là có tính chất đối với nước ngoài (đường lối đối ngoại).
Qua những khái niệm đã nêu về đối ngoại, công tác đối ngoại có thể được coi là những hoạt động liên quan có yếu tố nước ngoài được thực hiện thông qua các quy định về quản lý ngành và lãnh thổ. Các hình thức đối ngoại Phùng Hữu Phú và cộng sự (2019) cho rằng có 3 hình thức đối ngoại: Đối ngoại Đảng, Ngoại giao NN và Đối ngoại nhân dân, cụ thể: - Đối ngoại Đảng là mối quan hệ của Đảng ta với các đảng phái, các tổ chức chính trị ở các nước trên thế giới; cũng đồng thời là mối quan hệ giữa các lãnh đạo Đảng ta với lãnh đạo các đảng, các chính khách, các tổ chức chính trị của các nước. - Ngoại giao NN là mối quan hệ giữa NN ta với các NN khác; giữa lãnh đạo của NN ta với lãnh đạo các quốc gia, các diễn đàn đa phương một cách chính thức, là hoạt động chính thức của người đứng đầu NN, Chính phủ. - Đối ngoại nhân dân là hoạt động đối ngoại có sự tham gia rộng rãi của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở các cấp không nhân 8 danh Đảng, Nhà nước và Chính phủ; của các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, nhà báo, đồng bào các tôn giáo, các dân tộc.
của nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đặc điêm, vai trò của công tác đối ngoại trong phát triển kinh tế - xã hội - Đặc điểm của công tác đối ngoại: Mang tính quốc tế: Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài. Ngược lại, mọi quốc gia đều bị ảnh hưởng từ các nhân tố bên ngoài và môi trường xung quanh. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, sự liên kết giữa các quốc gia ngày càng trở nên chặt chẽ, hợp tác ngày càng gia tăng, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng.
Qua các hoạt động, công tác đối ngoại luôn thể hiện các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau về các nội dung hợp tác nhằm đạt lợi ích. Tính dễ bị ảnh hưởng: Các công tác đối ngoại cũng rất dễ bị ảnh hưởng bởi các nước có nền chính trị, thể chế kinh tế khác nhau hoặc dịch bệnh, v.v… Từ thực tiễn ngày nay, tính dễ bị ảnh hưởng thể hiện rất rõ qua các cường quốc vẫn là những trung tâm quyền lực lớn của thế giới, “sân chơi” chính trị quốc tế luôn chịu sự chi phối rất lớn của những trung tâm quyền lực này (Phan Thị Thu Dung, 2019). - Vai trò của công tác đối ngoại: Đóng góp rất quan trọng vào việc duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phục vụ phát triển kinh tế, nhất là đối ngoại về kinh tế, nước ngoài đầu tư và xuất nhập khẩu; hoà bình, an ninh và quốc phòng phải được giữ vững và ổn định.
Thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải quyết những bất đồng và những vấn đề tồn tại liên quan đến phân định ranh giới biển, vừa bảo vệ được quyền chủ quyền, quyền tài phán của ta; hợp tác xuyên biên giới, làm cho các đường biên giới trên bộ vừa là đường biên giới hòa bình, hữu nghị vừa là đường biên giới phát triển. Góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là đối tác ưu tiên, quan trọng đi vào chiều 9 sâu, ổn định, bền vững; quan hệ với các nước lớn tiếp tục được củng cố và thúc đẩy hài hòa, tranh thủ được các yếu tố tích cực, hạn chế được những bất đồng để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của quốc gia. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển, an ninh của đất nước. Cụ thể hóa và đưa khuôn khổ đã xác lập đi vào chiều sâu, thực chất, tạo sự đan xen, gắn kết giữa lợi ích của ta với các nước trên thế giới.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi mặt, tiếp tục phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và toàn cầu, trong đó nổi bật là đã tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, đoàn kết, hợp tác và tự cường (Hải Minh, 2018). Nhiệm vụ công tác đối ngoại Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối QHQT vào chiều sâu toàn diện, ổn định, bền vững. Chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh giao thương thị trường các nước, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến.
Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Thực hiện tốt các công việc tại các tổ chức quốc tế. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với các vấn đề toàn cầu. Tăng cường, chủ động hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh.
Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam (Lê Thị Bình, 2019). Nguyên tắc công tác đối ngoại Mọi hoạt động đối ngoại phải bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; đồng thời, phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, từ xác định quan điểm, lập trường của Đảng và NN đối với các vấn đề quốc tế, xây dựng và triển khai chính sách đối ngoại đến xử lý các vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các đối tác, cụ thể: - Bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu. - Từ trong quá khứ đến nay, việc kiên định một cách nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” trong chính sách đối ngoại, Đảng và NN ta từ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại tại Đại Đại hội VI đi đến tuyên bố “muốn là bạn với tất cả các nước” tại Đại hội VII và nâng cao lên một tầm cao mới tại Đại hội IX với quan điểm “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy”. Đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các QHQT của Đảng luôn dựa trên sự kiên trì nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là giữ vững hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.
Cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản này, Đảng ta nêu bốn nguyên tắc đối ngoại chủ yếu: + Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. + Không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực. + Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình. + Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi (Lê Thị Bình, 2019).
Quản lý nhà nước về công tác đối ngoại 1. Khái niệm - Khái niệm quản lý. Mặc dù quản lý là một vấn đề đã được các học giả nghiên cứu từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều khác biệt trong cách hiểu và dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Có tác giả cho rằng quản lý là việc đạt tới mục tiêu thông qua hoạt động của những người khác.
Tuy nhiên có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm cho rằng bao giờ quản lý cũng xuất hiện cùng với nhu cầu của con người, gắn liền 11 với quá trình phân công và phối hợp trong lao động của con người, với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, với sự liên kết con người với nhau để sống và làm việc. Hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với tư cách là tập hợp những người được điều khiển, định hướng, phối hợp với nhau theo một cách thức định trước nhằm đạt tới một mục tiêu chung nào đó. Trong các tổ chức đều có những người làm nhiệm vụ gắn kết những người khác, điều khiển người khác giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu của mình. Những người đó chính là các nhà quản lý.
Như vậy, quản lý có thể hiểu là quyết định của một người nào đó tác động lên một hay một nhóm đối tượng nhất định để buộc đối tượng đó thực hiện những hành động theo ý chí của mình. - Khái niệm quản lý nhà nước. QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của NN. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực NN, QLNN được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan NN thực thi quyền lực NN.
Ở nước ta quyền lực NN là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan NN trong việc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, QLNN chính là hoạt động thực thi quyền lực NN do các cơ quan QLNN tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực NN có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của NN (Bộ Nội vụ và Học viện Hành chính quốc gia, 2014). - Khái niệm quản lý nhà nước về công tác đối ngoại.