Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung Tâm GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung Tâm GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề liên kết đào tạo Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được giải phóng, đất nước chuyển sang giai đoạn “xây dựng XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Đại hội Đảng lần thứ III(1960) đã đề ra chủ trương “Vừa đào tạo tập trung, vừa đào tạo tại chức”. Khi đó thuật ngữ tại chức được sử dụng với nghĩa là học không tập trung toàn thời gian, vừa học vừa làm việc, có các văn bằng đại học với từ ghi thêm trong ngoặc là hệ “tại chức”.
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, đại hội Đảng lần thứ IV(1976) đã chỉ rõ: Phải tích cực xây dựng hệ thống đào tạo bồi dưỡng tại chức với nhiều hình thức học tập đảm bảo cho mọi người lao động có thể suốt đời tham gia học tập, trau dồi nghề nghiệp, mở rộng kiến thức. Trong vòng 10 năm từ 1975 đến 1985 hệ tại chức đã tuyển và đào tạo hơn 60000 sinh viên, hơn 80% các tỉnh, thành phố có trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức. Như vậy đã xuất hiện cụm từ “đào tạo và bồi dưỡng tại chức”, “mạng lưới tại chức” với nghĩa của học tại chức là học không tập trung toàn thời gian và có thể cấp hoặc không cấp văn bằng. Nghị quyết số 73/NQ-HĐBT năm 1983 của Hội đồng bộ trưởng đã cho phép thành lập trung tâm đào tạo, bồi dưỡng tại chức tỉnh trên cơ sở các tổ chức đa dạng ở địa phương đã hình thành từ trước.
Đây là một mô hình cơ sở giáo dục mới dựa trên sự liên kết của các trường đại học với các tỉnh, thường là một trung tâm GDTX cấp tỉnh liên kết với nhiều trường. Đây là một sáng kiến rất quan trọng, tạo một bước tiến của công tác đào tạo, bồi dưỡng đại học tại chức, từ xa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự liên kết này là một kinh nghiệm thiết thực, cần tổng kết và phát huy, nâng cao vai trò của các trung tâm GDTX trong đào tạo liên kết ở các bậc học, cấp học, hình thức học khác nhau. Với đường lối đổi mới được đề ra tại đại hội VI (1986), đối với lĩnh vực giáo dục, nghị quyết Đại hội đã ghi: “Phải bố trí hợp lý cơ cấu hệ thống giáo dục, thể hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng chính quy và không chính quy, tập trung, tại chức…”.
Từ những năm 1988-1991 đã thí điểm hệ đào tạo đại học không chính quy với những hình thức mới đi đôi với những tên gọi mới như đại học mở rộng, tự học có hướng dẫn, đào tạo từ xa, đại học mở (cả nước thành lập 2 Viện đại học mở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Nghị định 90-NĐ/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ đã công nhận giáo dục thường xuyên là một trong 5 thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân. Luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”, “nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập” [20]. Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2004 cũng đã chỉ rõ: “Các chương trình giáo dục từ xa vẫn đang trong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm, chất lượng còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều kiện tổ chức thực hành, thực nghiệm còn rất hạn chế.
Việc quản lý lỏng lẻo đối với các hệ liên kết đào tạo có cấp văn bằng đã dẫn đến tình trạng “học giả, bằng thật”. Đây là một khâu yếu nghiêm trọng của giáo dục không chính quy ở nước ta”[9]. Những năm gần đây, trong các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục như tạp chí giáo dục, tạp chí phát triển giáo dục, tạp chí dạy và học, báo giáo dục và thời đại…hay trong các báo cáo tổng kết công tác giáo dục thường xuyên hàng năm của Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã đề cập tới công 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác quản lý các lớp đại học hệ liên kết. Tuy nhiên hiện nay còn có rất ít công trình nghiên cứu có hệ thống, có thực nghiệm tại một cơ sở giáo dục cụ thể.
Với băn khoăn đó, trong luận văn này chúng tôi mạnh dạn phân tích một cách tương đối toàn diện, có hệ thống thực trạng của sự liên kết giữa Trung Tâm GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn với các trường Cao đẳng, Đại học mà Trung tâm liên kết. Bước đầu đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo các lớp cao đẳng, đại học theo hình thức liên kết tại đơn vị. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là sản phẩm và là yếu tố gắn chặt với hợp tác lao động.Mác thì bất cứ lao động xã hội nào hay lao động chung trực tiếp nào cũng đều ít nhiều cần đến sự quản lý.
Một cách hình ảnh C.Mác đã lột tả bản chất của quản lý và các hoạt động lao động để điều khiển lao động. Ông đã nói: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” để nêu bật lên sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Có thể nói hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Nó điều khiển một hệ thống động xã hội ở tầm vi mô cũng như vĩ mô.
Vì vậy quản lý được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra [19]. Bất luận một tổ chức nào, có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực và nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến.
Hoặc hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Có thể nói: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn.
Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý [1]. Theo Henri Fayol (1841-1925) là một kỹ nghệ gia người Pháp, cống hiến lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý”, ông là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra [19]. Theo quan điểm hình thức trong quản lý cho rằng các hành động quản lý thích hợp phụ thuộc vào các tham số riêng của mỗi tình huống cụ thể. Do đó thay vì tìm kiếm những nguyên lý phổ quát áp dụng cho mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, nên xác định các nguyên lý, tình huống cho phép vạch ra cách thức hành động tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi tình thế, hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Quan điểm tình huống có thể mạnh ở cách tiếp cận, có tính chẩn đoán của mình, khác với cách tiếp cận: “Một biện pháp tốt nhất” do các thuyết khác đề xướng. Và chính tính linh hoạt, năng động trong hành động 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý do cách tiếp cận như vậy tạo nên cũng là điểm mạnh của quan điểm này. Thuyết này hướng dẫn người quản lý nên sử dụng các thuyết đã có trong các tình huống cụ thể chứ không đề xuất một “bài bản” gì mới mẻ hoàn toàn. Theo tác giả Mary Parker Follett thì quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại.
Bà khẳng định rằng một vấn đề đã được giải quyết, thì trong quá trình giải quyết nó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh. Bằng những quan sát trực tiếp hoạt động của người quản lý, bà đi đến kết luận rằng sự phối hợp là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả. Bà đã đề xuất 4 nguyên tắc phối hợp mà người quản lý cần phối hợp: Sự phối hợp sẽ thành đạt nhất nếu những người chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc với nhau. Sự phối hợp ở những giai đoạn đầu của việc lập kế hoạch và triển khai dự án có một ý nghĩa quyết định.
Sự phối hợp phải chú ý tới mọi nhân tố trong một tình huống, hoàn cảnh cụ thể. Và sự phối hợp phải được duy trì liên tục [19].