Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu về hoạt động học tập Thời cổ đại ở phương Tây có các đại biểu như: Sôcrát (469 - 399 tr.CN), đề xuất phương pháp “đàm thoại” - “thuật đỡ đẻ” [41], Platon (427 - 348 tr.CN), sáng tạo ra cách phân chia học tập theo tuổi [98], Arisxtốt (384 - 322 tr.CN), với luận điểm giáo dục phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhu cầu của con người [98]. Ở phương Đông có Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) - người đầu tiên trong lịch sử nêu quan điểm “giáo học tương trưởng”, ông đòi hỏi người dạy phải có cách dạy cho phù hợp để người học chiếm lĩnh tri thức và giá trị đạo đức: “Dụ - Đạo - Trợ - Khải - Phát”. Ông nhấn mạnh: “Học mà chẳng chịu suy nghĩ thì chẳng được thông minh.
Suy nghĩ mà chẳng chịu học thì lòng dạ chẳng yên ổn” đã phản ánh tư tưởng về phương pháp cách thức học tập cẩn trọng, tích cực, kiên trì và tư duy linh hoạt để đi đến miêu tả chân lý và đòi hỏi người học phải: “Bác học - Thẩm vấn - Thận tư - Minh biện - Đốc hành”, người học phải có suy luận những kiến thức mới từ kiến thức người dạy đã trang bị: “Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [65]. Ngoài ra, còn có Mặc Tử (475 - 390 tr.CN), với quan niệm học tập phải xuất phát từ thực tiễn, từ đặc điểm người học, theo sức lực và khả năng của người học [41] và Hàn Phi Tử (280 - 233 TCN), với lý thuyết cai trị phải chú ý tới ba yếu tố “Pháp - Thế - Thuật” [41] trong quản lý xã hội và tổ chức học tập trong giáo dục tất yếu là hoạt động cần được quản lý. Các nghiên cứu trên cách ngày nay gần ba mươi thế kỷ nhưng nhìn chung vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, vẫn là những bài học quý giá cho quản lý hoạt động học tập của người học ở các nhà trường hiện nay. Thời kỳ chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, xuất hiện nhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ, được nâng lên tầm cao mới, khái quát thành lý luận với các đại biểu như: John Locke (1632 - 1704), J.
Song, do hạn chế bởi “cảm giác luận” và triết học duy lý, nên những tư tưởng đó còn phiến diện, giản đơn; còn tuyệt 19 đối hoá sự phát triển tự nhiên, dẫn tới hạ thấp, coi nhẹ yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với người học. Tuy nhiên, cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại” (1632) của J. Kô-men-xky (1592 - 1670) đã đi vào lịch sử như một cột mốc đánh dấu sự ra đời của lý luận giáo dục và lý luận dạy học, đây là bước tiến mới trong việc xây dựng hệ thống lớp – bài quy định chặt chẽ về nội dung và phương pháp giáo dục đến nay vẫn đang áp dụng trong các nhà trường hiện đại [62]. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của nhiều trào lưu triết học mang màu sắc duy tâm chủ quan như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng, cùng với sự xuất hiện thuyết hành vi trong tâm lý học dẫn tới sự xuất hiện đa dạng với nhiều trường phái và tên gọi khác nhau về học tập như: Rét-di, một bác sĩ người Anh đã đề xướng tư tưởng “Nhà trường mới” [98]; Kéc-Sens-ten-ơ (1854 - 1932), Giáo sư người Đức đề xuất loại hình “Nền giáo dục công dân” và “Nhà trường lao động” [98]; A.
Các nghiên cứu ở thời kỳ này đã đưa ra nhiều quan điểm luận bàn về hoạt động học tập của học sinh, sinh viên và nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động học tập đối với sự phát triển tư duy và hình thành thói quen học tập cho người học; khẳng định, muốn nâng cao hiệu quả học tập thì người giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức, hướng dẫn tự học cho học sinh. Thực tiễn xây dựng, phát triển nền giáo dục Xô Viết, với những đóng góp rất to lớn của các nhà sư phạm lỗi lạc N.Krúp-xcaia, B-lôn-xki [27]; A.Ma-ka-ren-kô, Lu-na-trat- xki [76]; Ia.Lecne [67]; đặc biệt N. Có thể khẳng định rằng, các nghiên cứu trên của các nhà giáo dục học Liên Xô (cũ) có đóng góp hết sức quan trọng tới việc tổ chức dạy - học gắn chặt với những hoạt động khác của mọi lĩnh vực xã hội. Ngoài ra, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng đã được các nhà tâm lý học trên thế giới như: Pavlov, Watson, Thorndike, Skiner, J.
Piaget, Ghestalt, Benjamin Bloom, X. Léonchiev… nghiên cứu và đưa ra những khái niệm và cơ chế của hoạt động học tập. Giáo dục ở thế kỷ XXI đã có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo những con người có năng lực tự quyết định; trong tương lai gần, mỗi người học sẽ phải có đủ các phẩm chất: tự học (self learning), tự tổ chức (self organizing), tự quyết định (self defining) và tự phát triển (self developing); tiêu biểu như các nghiên cứu của: Alvin Toffer (1992) với “Làn sóng thứ ba” [105]; Jean – Marc Denommé, Madeleine Roy (2000) với “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [77]; R.Colin và Malcolm J. Nhìn chung, các tác giả trên đã phân tích nhiều vấn đề của giáo dục khi bước vào thế kỷ XXI; trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học và hoạt động học tập trước sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học; đồng thời chỉ ra cách học cần phải được dạy cho thế hệ trẻ.
Truyền thống của dân tộc Việt Nam rất coi trọng việc giáo dục, thời phong kiến với các danh nhân, các nhà sư phạm tiêu biểu như: Chu Văn An (1292 – 1370), luôn “Nêu gương sáng cho kẻ sĩ học tập” [121, tr.62]; Lê Quý Đôn (1726 – 1784), với luận điểm “Biết học thì không thể biện lẽ thiếu thì giờ” [121, tr.70] để hướng dẫn người học tích cực học tập. 21 Đến đầu thế kỷ XX, phong trào cổ xúy Tân học của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu nổi lên rầm rộ từ Bắc chí Nam nhằm trực tiếp chống lại thứ giáo dục lạc hậu của thời phong kiến, chống lại cả giáo dục nô dịch của thực dân Pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân thời kỳ này giáo dục không có sự phát triển đáng kể cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự thành lập nhà nước Việt Nam đã làm cho khoa học giáo dục có bước phát triển về chất với các tác giả tiêu biểu: Hồ Chí Minh (1890 – 1969), khi bàn về vấn đề học tập phải xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn; nghĩa là phải hiểu “Học để làm gì? – Học để sửa chữa tư tưởng – Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng – Học để tin tưởng – Học để hành”, khi đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tại Việt Bắc, tháng 9 năm 1949 (nay là Học viện Chính trị - Hành Chính quốc gia Hồ Chí Minh), Người ghi trong trang đầu Quyển sổ vàng của Nhà trường: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [80, tr.
Sinh thời, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, mà phải giáo dục cho học trò các rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề [35, tr. Bước vào thời kỳ đổi mới, các công trình nghiên cứu phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá đã được cụ thể thành phương châm, Chiến lược giáo dục và đào tạo với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Như An (1996), với “Phương pháp dạy học Giáo dục học” [1]; Phạm Trung Thanh (1999), với nghiên cứu về “Phương pháp học tập – nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” [97]; Đặng Thành Hưng (2002), với “Dạy học hiện đại lý luận – biện pháp – kỹ thuật” [52]; Phạm Minh Hạc (2002) với công trình nghiên cứu về vấn đề “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” [38], đã đề cập khá toàn diện tới vị trí vai trò, của người học; đồng thời chỉ ra những hạn chế về phương pháp học tập – nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học. 22 Các tác giả, Nguyễn Kỳ (2005) bàn về “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm” [63]; tác giả Phạm Viết Vượng (2007), trong cuốn sách “Giáo dục học” [136]; Thái Duy Tuyên (2008), với “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” [122]; đặc biệt công trình của các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo (2004) đã bàn về học tập trong cuốn sách “Học và dạy cách học”, đã bàn về mối quan hệ giữa dạy và học, cho rằng mục đích của dạy là làm cho người học học đúng cách, làm cho người học biết cách học và cách đó là khả thi; có nghĩa là “làm cho học sinh, sinh viên hiểu được các nhà khoa học đó” [105, tr.61], nghiên cứu này đã làm thay đổi và chỉ ra cách hiểu của người học, sao cho học sinh, sinh viên bắt đầu quan niệm về hiện tượng và ý tưởng theo cách của các nhà khoa học. Ngoài ra, các tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu (2010), bàn về hoạt động học tập – tự học của sinh viên trong cuốn sách “Tự học của sinh viên” [3], cùng các tác giả Đỗ Linh và Lê Văn với cuốn sách “Phương pháp học tập hiệu quả” [70]; Joe Landsberger cuốn sách “Học tập cũng cần chiến lược” [66]; Bobbi Deporter và Mike Hernacki với cuốn sách “Phương pháp học tập siêu tốc” [10] đã đưa ra bản chất và đặc điểm của hoạt động học tập có mục đích, cấu trúc của hoạt động học tập, động cơ học tập và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới hoạt động học tập – tự học của sinh viên và hướng dẫn phương pháp học tập hiệu quả… Nhìn chung, các công trình tiếp cận về hoạt động học tập ở những góc độ, khía cạnh khác nhau.
Song, các nhà khoa học đều đi đến thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của người học; đưa ra những cách thức, phương pháp giúp người học đạt được hiệu quả cao khi tiến hành hoạt động học tập.