phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng chống bắt nạt trực tuyến cho học sinh ở trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống bắt nạt trực tuyến cho học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng chống bắt nạt trực tuyến cho học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẮT NẠT TRỰC TUYẾN CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Lý thuyết liên quan đến bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói riêng đƣợc chia thành hai hƣớng chính: lý thuyết giải thích cơ chế hành vi và lý thuyết áp dụng cho quá trình can thiệp và phòng ngừa. Những vấn đề đề cập đến nhƣ: Một là, các nhà nghiên cứu luôn cố gắng để hiểu đƣợc sâu sắc về cơ chế và nguồn gốc nảy sinh, duy trì hành vi. Hành vi bắt nạt trực tuyến cũng thu hút sự quan tâm lý giải của nhiều nhà nghiên cứu, với nhiều cách tiếp cận và lý giải vô cùng đa dạng, phong phú.
Các học giả đã ứng dụng một số lý thuyết để giải thích riêng cho hành vi bắt nạt trực tuyến nhƣ: Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory), Lý thuyết ƣu thế xã hội (Social Dominance Theory), Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory), Lý thuyết mô hình gây hấn chung (The General Aggression Model), Lý thuyết về hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior), Lý thuyết căng thẳng chung (General Strain Theory), Lý thuyết mô hình bắt nạt trực tuyến của Barlett và Gentile (Barlett and Gentile Cyberbullying Model),… Hai là, một số lý thuyết đã đƣợc áp dụng cho quá trình can thiệp và phòng ngừa, chẳng hạn nhƣ: nghiên cứu của Topcu-Uzer và Tanrikulu (2018) đã sử dụng lý thuyết Theory of Affordances; Doane và cộng sự (2016) sử dụng Lý thuyết về hành động hợp lý, McGuire và Norman (2018) sử dụng Thuyết phát triển con ngƣời của Bronfenbrenner (Bronfenbrenner’s theory of human development); McCoy và cộng sự (2018) sử dụng cách tiếp cận “toàn trƣờng” của Dan Olweus,… Có nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện với mẫu đƣợc chọn từ một khu vực của một quốc gia nào đó cụ thể, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của Garaigordobil (2015) với 3026 trẻ từ 12-18 tuổi, ở xứ Basque (miền Bắc Tây Ban Nha); nghiên cứu của Safaria (2016) với 102 HS lớp 7 ở Yogyakarta, Indonesia; nghiên cứu 6 của Kapatzia và Syngollitou (2007) trên 544 học sinh 14-19 tuổi ở khu vực phía đông của thành phố Thessaloniki, phía Bắc Hy Lạp; nghiên cứu của Yilmaz (2011) với 756 HS lớp 7 từ 8 trƣờng trung học khác nhau ở Istabul, thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu của Przybylski và Bowes (2017) với mẫu ngẫu nhiên của 298.080 HS đƣợc rút ra từ 564.886 hồ sơ cơ sở dữ liệu HS quốc gia của thanh thiếu niên từ 15 tuổi sống ở Anh, để hoàn thành các cuộc khảo sát tự báo cáo từ ngày 22 tháng 9 năm 2014 và ngày 9 tháng 1 năm 2015. Một số nghiên cứu đƣợc thực hiện tại nhiều quốc gia cùng lúc và có sự so sánh về tỷ lệ giữa các quốc gia đó, ví dụ nhƣ nghiên cứu của Tsitsika và cộng sự (2015) với 10.930 HS ở Tây Ban Nha, Ba Lan, Hà Lan, Romania, Iceland và Hy Lạp. Nghiên cứu tổng quan hệ thống về công cụ đo đạc bắt nạt trực tuyến đã cho thấy mặc dù trong một thập kỷ qua, số lƣợng nghiên cứu về vấn đề này là rất nhiều, nhƣng đây vẫn là lĩnh vực cần đƣợc nghiên cứu thêm.
Trong tƣơng lai, các chuyên gia trong lĩnh vực này cần có một sự đồng thuận về mặt các khái niệm và tiếp tục nghiên cứu về độ hiệu lực và độ tin cậy của các công cụ đo đạc (Lucas-Molina, Pérez-Albéniz và Giménez-Dasi, 2016). Theo kết quả tổng quan hệ thống của Berne và cộng sự (2013), trong tổng số 44 thang đo bắt nạt trực tuyến, có khoảng một nửa số đó không đƣợc xây dựng dựa trên khái niệm bắt nạt trực tuyến. Cấu trúc của công cụ bao gồm từ hành vi quấy rối trên mạng cho đến hành vi bắt nạt trực tuyến. Mặc dù tác giả sử dụng các khái niệm khác bắt nạt trực tuyến nhƣng họ vẫn tuyên bố rằng công cụ của họ làm là để đo lƣờng nó.
Các học giả đã quan tâm đến cách thức ứng phó của thanh thiếu niên trong các nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến. Đã có những nghiên cứu định tính, định lƣợng đƣợc thực hiện để tìm hiểu xem liệu khi bị bắt nạt, thanh thiếu niên đã ứng phó nhƣ thế nào? Cách ứng phó của thanh thiếu niên vô cùng đa dạng, đó có thể là tìm kiếm sự giúp đỡ của bố mẹ, bạn bè, giáo viên,… nhƣng cũng có những trƣờng hợp các em lờ đi, hoặc trả đũa lại thủ phạm (Raskauskas & Huynh, 2015; Jacobs và cộng sự, 2015, Mcguckin và cộng sự, 2013; Chan & Wong, 2017;…). Đồng thời, cũng đã có những nghiên cứu cho thấy tác động, hiệu quả của các cách ứng phó đó trong việc giải quyết bắt nạt trực tuyến và giảm thiểu những hệ quả tiêu cực mà nó đem lại, ví dụ nhƣ nghiên cứu của Völlink và cộng sự (2013); Dehue (2016); Machmutow và cộng sự (2012),… 7 Trên thế giới, nhiều nghiên cứu về nhận thức của giáo viên, phụ huynh và chính bản thân học sinh về bắt nạt đã đƣợc thực hiện (ví dụ nghiên cứu của Ševčíková, Šmahel & Otavová, 2012; Smith và cộng sự, 2006; Kaya, 2014; Asanan và cộng sự, 2017; Murphy, 2014; Diamanduros, Jenkins & Downs, 2006; Clarke, 2013; Parris và cộng sự, 2012; Stauffer và cộng sự, 2012,…). Tại các chƣơng trình phòng ngừa, các nội dung và mục tiêu đều phải thực hiện đó là nâng cao nhận thức về bắt nạt trực tuyến.
Một trong những bƣớc đầu tiên của bất cứ chƣơng trình phòng ngừa nào cũng là đảm bảo mọi ngƣời đều nhận thức đƣợc vấn đề. Học sinh và tất cả những ngƣời có liên quan đến học sinh đều cần có nhận thức đầy đủ về bắt nạt trực tuyến và các vấn đề xung quanh vấn đề này. Trong quá trình học sinh tìm hiểu về bắt nạt, giáo viên và phụ huynh phải hiểu để đƣa ra những câu trả lời phù hợp cho học sinh (Albert, 2011). Hơn nữa, tỷ lệ bắt nạt trực tuyến gia tăng có một phần nguyên nhân là do thiếu nhận thức về vấn đề này (Asanan và cộng sự, 2017).
Nhƣ vậy qua tổng quan nghiên cứu ngoài nƣớc đã cho thấy BNTT đƣợc nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau: nghiên cứu về các khía cạnh về khái niệm, dạng hành vi bắt nạt trực tuyến; thực trạng bắt nạt trực tuyến; xây dựng, thích ứng, kiểm định các chỉ số tâm trắc của công cụ đánh giá bắt nạt trực tuyến; đặc điểm của ngƣời tham gia bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về các yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ đối với bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về quan điểm, thái độ, niềm tin, nhận thức về bắt nạt trực tuyến của thanh thiếu niên và các bên liên quan; nghiên cứu về cách ứng phó của thanh thiếu niên và các bên liên quan với bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về các biện pháp phòng ngừa và can thiệp bắt nạt trực tuyến bằng các chính sách, mô hình, chƣơng trình, ứng dụng cho cá nhân, trƣờng học, cộng đồng. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, hiện nay các khái niệm về bắt nạt trực tuyến hầu hết đƣợc đƣa ra dựa trên tổng hợp khái niệm từ các nghiên cứu thế giới, ví dụ nghiên cứu của Trần Văn Công và cộng sự (2015), Nguyễn Thị Bích Hạnh và cộng sự (2017) nhƣ đã trình bày, ngoài ra chƣa có khái niệm nào xuất phát từ quan điểm của ngƣời Việt, đƣợc đƣa ra trong bối cảnh văn hóa Việt Nam (dẫn theo [12]). Các chƣơng trình phòng ngừa có bằng chứng tập trung nhiều ở các nƣớc phƣơng Tây, các nhà nghiên cứu ở các nƣớc phƣơng Đông nhƣ chúng ta cần lƣu ý, 8 bởi tỷ lệ học sinh tham gia vào bắt nạt trực tuyến thống kê qua các nghiên cứu nhƣ ở Việt Nam cho thấy những con số không hề nhỏ (Trần Văn Công và cộng sự, 2015; Nguyễn Phƣơng Hồng Ngọc và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Bích Hạnh và cộng sự, 2017). Thực trạng đó cho thấy chúng ta thực sự cần có những chƣơng trình phòng ngừa - can thiệp vấn đề này.
Mặc dù một số chƣơng trình đã đƣợc xây dựng và triển khai tại một số khu vực, chẳng hạn nhƣ trong chƣơng trình giảng dạy về phòng chống và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trong trƣờng học dành cho giáo viên, xuất bản bởi Plan Việt Nam nằm trong dự án Trƣờng học an toàn, thân thiện và bình đẳng đã có một tiết dạy về bắt nạt qua mạng, hay chƣơng trình Think Before You Share do Facebook và Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững phối hợp thực hiện thông qua chuỗi hội thảo, tập huấn và các nguồn tài nguyên trực tuyến, cung cấp cho thanh thiếu niên các công cụ và hƣớng dẫn về cách chia sẻ thông tin một cách an toàn và có trách nhiệm trên mạng xã hội. Một số nghiên cứu về cách ứng phó với bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói riêng đã đƣợc thực hiện. Nghiên cứu của Trần Văn Công, Nguyễn Phƣơng Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dƣơng, Nguyễn Thị Thắm (2015) về “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực truyến”, Bài viết đề cập tới một nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa bắt nạt trực tuyến và cách ứng phó của học sinh trung học khi các em bị bắt nạt trực tuyến. 736 học sinh của 8 trƣờng THCS và THPT ở Hà Nội, Hà Nam và Hải Dƣơng đã tham gia vào nghiên cứu này.
Kết quả cho thấy 183 học sinh (chiếm 24% tổng số khách thể nghiên cứu) là nạn nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến. Mức độ và hình thức bị bắt nạt ở nạn nhân có sự khác biệt xét về mặt giới tính, khu vực sống, độ tuổi và cấp học. Nạn nhân thƣờng ít chia sẻ việc mình bị bắt nạt, và lảng tránh vấn đề này, tuy vậy các em nhận thức đƣợc sự nghiêm trọng của bắt nạt trực tuyến, coi đó không phải chuyện bình thƣờng chỉ xảy ra trên mạng [8].