CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Triết lý giáo dục đã nêu rõ: “Học đi đôi với hành” và tiến tới mục tiêu: Học để biết, học để làm, học để làm người… Với mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS, trang bị cho HS những năng lực, phẩm chất để có thể phát triển toàn diện trong tương lai, đòi hỏi người học không những lĩnh hội kiến thức mà còn phải biết thực hành. Đó chính là hướng đến của giáo dục của các nước trên thế giới. Để thực hiện được những mục tiêu đó, ngoài việc lĩnh hội những kiến thức trên lớp, HS cần phải thực hiện những hoạt động thông qua các giờ thực hành, các hoạt động tập thể,. các hoạt động đó được thực hiện ở ngoài lớp học – gọi chung là HĐGD NGLL.
Việc quản lý các hoạt động này có vai trò quyết định đến sự hình thành kiến thức, kĩ năng, hành vi và thái độ,. Nó được thể hiện qua các quan điểm như sau: Democrite (460 – 370 trước CN), một nhà giáo dục thời Hi Lạp cổ đại, rất coi trọng việc giáo dục lao động, là người đầu tiên trong lịch sử đưa ra nguyên tắc “kết hợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ em. Ăngghen có nói: Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người, và. một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người.[26, tr 20] Mặc Tử (475 -390 trước CN), đưa ra nguyên tắc là: Học gì phải lợi ích của muôn dân trăm họ (“Quốc gia bách tính nhân dân chi lợi”); Học gì phải mang tính thực tiễn cho mọi người (“Bách tính nhân dân nhĩ mục chi thực”); Học phải đi đôi với hành (“Sĩ tuy hữu học, nhi hành vi vi bản yên”) và miệng nói đi đôi với tay làm (“Khẩu ngôn chi thân tất hành chi”) [26, tr 67] 7 Pétxtalodi (1746 – 1827), người cha của mọi trẻ em, nhà giáo dục tiêu biểu trong thế kỉ XIX.
Với lòng nhân ái sâu sắc, với ý đồ cải tạo xã hội bằng con đường giáo dục, đặc biệt là cải thiện cuộc sống cho người lao động. Bên cạnh giáo dục các mặt “đức dục”, “trí dục”, “thể dục” và giáo dục lao động, theo ông thì: “trong trường học, suốt ngày trẻ em vừa học tập, vừa lao động ngay trong xí nghiệp và trên đồng ruộng. Trong trường học cần có đất đai để trồng trọt, chăn nuôi và trẻ em được học một nghề thủ công (mộc, nề, dệt, đan, chữa đồng hồ,…). Trong thời gian làm việc cũng như lúc thanh nhàn, hoặc trong lao động đều tiến hành việc giáo dục (học hành)”.
Vấn đề này được Pétxtalodi đánh giá cao vai trò của lao động trong việc hình thành nhân cách trẻ em.[26, tr 121] John Dewey (1859 – 1952) cho rằng: ‘‘Cần phải cho trẻ lao động với các hình thức đa dạng của cuộc sống và được tiến hành ở mọi nơi như ở vườn trường, xưởng trường, dưới nhà bếp, ngoài công xưởng và được trang bị bằng những công cụ lao động với các phương tiện hiện đại… qua đó trẻ phải học cách tự thiết kế, học cách tính toán, tìm tỉ lệ, tính giá trị thành phẩm, vật liệu, sử dụng các ngôn từ chuyên dùng, học cách trang trí nội thất.” Ý định của ông là xóa bỏ ranh giới giữa nhà trường với đời sống. [26, tr 140] Ở Mĩ, cuối thế kỉ XIX, Horace Mann (1796 – 1859), là luật sư, chính trị gia, nhà giáo dục rất quan tâm đến vấn đề xã hội và giáo dục. Ông đưa ra chương trình cải tiến rộng lớn với phương pháp giáo dục tích cực. Một trong sáu luận điểm của Horace Mann là: “Giáo dục cần phải thực hiện với phương pháp sư phạm thực dụng, thúc đẩy HS học tập tích cực, quan tâm đến từng cá nhân HS, học tập trong lớp học và ngoài lớp học, áp dụng kỉ luật của một xã hội dân chủ.” [10, tr 171] Như vậy, vấn đề giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được các chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo dục,… các nước trên thế giới đã đề cập từ rất sớm.
Từ đó cho thấy rằng, trong quá trình giáo dục, ngoài việc giáo dục thông qua các bài học trong lớp thì cũng có thể giáo dục người học thông qua các hoạt động giáo dục khác.2 Ở Việt Nam Phương châm giáo dục của Lịch sử giáo dục Việt Nam trong nội dung cải cách giáo dục năm 1950 có nêu rõ: “Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn” [9, tr137]. Trong đó có nói đến xây dựng chương trình: “Đối với trường phổ thông 9 năm tạm gác một số môn học chưa thật sự cần thiết hoặc chưa có điều kiện giảng dạy như: Ngoại ngữ, nhạc, vẽ, nữ công gia chánh. Bỏ một số phần chưa thật cần thiết trong một số môn như lịch sử cổ đại, văn học cổ, địa lí thế giới. Ngoài ra, đưa thêm một số môn học và một số hoạt động mới như: Thời sự chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất ở tất cả các lớp (mỗi tuần 3 giờ).
[9, tr 139] Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956), mục tiêu cải cách giáo dục lần này được xác định rõ: “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài, có đức để phát triển chế độ dân chủ của nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ngoài ra, phương châm giáo dục xác định: “lí luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội. Từ năm 1958, cuộc vận động xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa được phát động. Nhà trường Xã hội chủ nghĩa có một số đặc trưng như sau: “Lao động sản xuất phải trở thành yếu tố cơ bản trong mục đích, phương châm, phương pháp giáo dục của nhà trường”.
Như vậy, để xây dựng nhà trường Xã hội chủ nghĩa theo đặc trưng trên, từ năm 1958 – 1959, các trường tổ chức cho HS tham gia lao động sản xuất trong dịp hè. HS sôi nổi tỏa về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham gia lao động trong các công trình thủy lợi, cầu đường,. [9, tr 155] Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979), tháng 12/1967 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã vạch ra con đường đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước và xác định “giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt ra cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa”. Thực 9 hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, ngày 11/1/1976 Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14 – NQ/TW về cuộc cải cách lần thứ ba.
Có một số mục tiêu cơ bản đó là: “Thực hiện tốt hơn nữa nguyên lí giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất gắn với đào tạo nghề và nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.” [9, tr 182] Giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới (Từ năm 1986 đến nay), đã có rất nhiều chủ trương lớn của Đảng về đổi mới giáo dục. Trong đó, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997) đã phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, trên cơ sở đó đề ra những định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một trong những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục đó là: “ Phát triển giáo dục – đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học – công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh,. thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học lí luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội” [9, tr 195] Như vậy, theo lịch sử giáo dục Việt Nam thì từ sau cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba cho đến nay thì tên gọi HĐGDNGLL được sử dụng phổ biến và được nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động giáo dục này, cũng như hoạt động này đã được nhiều tác giả đã chọn để thực hiện các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
Đặc biệt Hoạt động giáo dục này cũng được nhiều nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục chọn để thực hiện nhiều đề tài báo cáo cũng như làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong công tác quản lý, giảng dạy,. điển hình như: Luận Án tiến sĩ: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hướng xã hội hóa ở trường Trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Phạm Thị Lệ Nhân – Hà Nội năm 2015 [19];. Ngoài ra, với chủ đề này cũng được các tác giả chọn làm đề tài thực hiện nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ như: “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lớp ở các trường TH bán trú quận 8 thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Quốc Hưng – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 [14], Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường Trung học phổ thông tại quận 12, thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011 của tác giả Nguyễn Tấn Tài 10 [25]. Đặc biệt, với tình hình giáo dục hiện nay, hoạt động này cũng đang được nhiều tác giả đã và đang chọn để thực hiện Luận án, luận văn tốt nghiệp phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, vùng miền.
Tuy nhiên, các công trình luận án, luận văn trên tập trung nghiên cứu các HĐGDNGLL và quản lý HDGDNGLL của một số quận, huyện, tỉnh, thành phố và khu vực khác nhau. Qua tìm hiểu thực tế tại tỉnh Bình Dương cũng đã có tác giả đang và từng nghiên cứu về HĐGDNGLL. Tuy nhiên tại thị xã thuận An, tỉnh Bình Dương tôi chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu nào về hoạt động này. Đặc biệt là quản lý HĐGDNGLL ở bậc TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý HĐGDNGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” là cần thiết và phù hợp với tình hình giáo dục tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.