phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về QL HĐGDNGLL ở các trường trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng các biện pháp QL HĐGDNGLL ở trường THPT Đa Phúc, Sóc Sơn, Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp QL HĐGDNGLL ở trường THPT Đa Phúc, Sóc Sơn, Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ngay từ những ngày đầu khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (2/9/1945), Bác Hồ - vị lãnh tụ, nhà giáo mẫu mực của chúng ta đã đặt nền móng cho sự nghiệp phát triển giáo dục với phương châm: "Dân tộc - Khoa học - Đại chúng", giáo dục: "Đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, giáo dục văn hoá, kỹ thuật và lao động sản xuất". Trong bất cứ hoàn cảnh nào dù thời chiến hay thời bình, thời kì giáo dục khó khăn nhất hay hưng thịnh thì sự nghiệp phát triển giáo dục vẫn luôn chú trọng đến giáo dục toàn diện cho HS. Những tư tưởng đó được thể hiện rõ trong nguyên lí: "Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội". Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới hiện nay, phương châm giáo dục toàn diện càng được quán triệt mạnh mẽ trong các hoạt động giáo dục theo mục tiêu đào tạo con người Việt Nam XHCN nhằm hình thành và phát triển nhân cách HS.
HĐGDNGLL đã trở thành một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc nghiên cứu về các HĐGDNGLL và các biện pháp QL HĐGDNGLL đã được nhiều tác giả quan tâm. “Sách giáo viên Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Lớp 10, 11, 12 (nhiều tác giả) nêu đầy đủ, chi tiết mục tiêu, nội dung, cách thức tổ chức HĐGDNGLL, cùng với đó là hướng dẫn cách đánh giá kết quả hoạt động của HS. Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa Lớp 10 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, tác giả Nguyễn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dục Quang cũng nêu rõ: Chương trình giáo dục phổ thông của các nước trong khu vực và trên thế giới đã coi trọng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế, nội dung chương trình thường tinh giản, tập trung vào các kiến thức, kĩ năng cơ bản và thiết thực, tích hợp được nhiều mặt giáo dục.
Hình thức tổ chức dạy và học rất đa dạng [26]. Trong cuốn “Giáo dục học”, các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoại khoá, coi hoạt động ngoại khoá là một hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho HS, giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức [20]. Một số tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các biện pháp QL hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS, THPT” để hoàn thành khoá học thạc sĩ như Bùi Thị Thu (Biện pháp quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THCS địa bàn tỉnh Nam Định), Nguyễn Thị Xường (Biện pháp quản lí HĐGDNGLL ở trường THPT Đồ Sơn - Thành phố Hải Phòng ), Khuất Cao Bắc (Biện pháp quản lí HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay),… Đã có một số biện pháp được đề cập đến trong các nghiên cứu này như: phát triển năng lực đội ngũ, phát huy tối đa vai trò chủ thể của HS, đa dạng hoá các loại hình hoạt động, xã hội hóa giáo dục, phát động các phong trào thi đua,… 1. Các khái niệm công cụ 1.1 Quản lí QL là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại.
Trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về QL. Mỗi quan điểm lại phụ thuộc vào cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu cũng như hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Bên cạnh các định nghĩa của các nhà nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều cách định nghĩa, nhiều quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm khác nhau về QL. Có thể nêu ra đây một số những tác giả tên tuổi đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển của khoa học QL ở Việt Nam.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động QL là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức [8]. Tác giả Nguyễn Văn Lê và Nguyễn Sinh Huy đưa ra định nghĩa: QL là một hệ thống tác động nghệ thuật khoa học vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống [24]. Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến [27]. Như vậy, có thể nói, QL là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
QL là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phương tiện QL. Tóm lại, QL là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể lên khách thể thông qua các cơ chế QL, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi trường luôn có biến động, để cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển tích cực, đạt được những mục tiêu đề ra. Có bốn chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau tạo thành một quá trình QL, đó là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Thứ nhất, về chức năng kế hoạch hóa: Chức năng lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó.
Kế hoạch là nền tảng của QL. Thứ hai, về chức năng tổ chức: Đó là hoạt động thực hiện kế hoạch bằng tổ chức. Tổ chức sắp xếp quá trình và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Xây dựng các cơ cấu nhóm, tạo sự hợp tác, liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cho phù hợp góp phần tăng thêm tính hiệu quả của mặt tổ chức.
Thứ ba, về chức năng chỉ đạo: Đây là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức để họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu của tổ chức. Chỉ dẫn, động viên, phối hợp các lực lượng trong nhà trường chủ động làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định. Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể QL trực tiếp ra quyết định cho mọi người dưới quyền thực hiện. Tuy nhiên, để quyết định QL đạt hiệu quả, chủ thể QL thường sử dụng các phương pháp như hướng dẫn, động viên, khuyến khích, nhằm thuyết phục mọi người thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Cuối cùng về chức năng KT - ĐG: Đây là chức năng có liên quan đến mọi cấp QL để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống quá trình vận hành tổ chức, từ đó rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh thích hợp. Có thể nói, các chức năng trên gắn bó, đan xen với nhau, khi thực hiện chức năng này sẽ có mặt của chức năng khác nhưng ở mức độ khác nhau. Để thực hiện tốt bốn chức năng trong hoạt động QL, chức năng thông tin đóng vai trò quan trọng, nó được xem như “mạch máu” của hoạt động QL.2 Quản lí giáo dục QLGD là một khoa học QL chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung, đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục. QLGD đã ra đời và hình thành từ nhiều quan điểm khác nhau do mỗi phương thức sản xuất của xã hội có một cách QL khác nhau.
Khái niệm “QLGD” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục”. QLGD được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi giáo dục được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội. Còn khi được diễn ra trong ngành giáo dục từ Bộ GD & ĐT đến cơ sở trường học hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp thì “QLGD” được hiểu theo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa hẹp là QL một hệ thống giáo dục, QL nhà trường,… Để hiểu một cách chính xác hơn về “QLGD” ta xem xét các quan điểm sau đây: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất” [27, tr56]. Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội”.
Theo tác giả Trần Kiểm: QLGD được thực hiện ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô: [22] Đối với cấp vĩ mô, “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, mục tiêu, kế hoạch, hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến toàn bộ hệ thống (từ trung ương, địa phương đến các cơ sở giáo dục là nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.